TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 145/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 08-12-2025.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Nhân.
Ông Nguyễn Văn Ba.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 519/2025/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Linh D, sinh năm 1989;
CCCD: [...] cấp ngày 07/4/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nơi thường trú: Ấp X, xã L, tỉnh Đồng Nai;
Nơi sinh sống: Ấp A, xã L, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Vương Thái H, sinh năm 1989;
CCCD: [...] cấp ngày 12/8/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nơi thường trú: Ấp X, xã L, tỉnh Đồng Nai.
(Chị D, anh H có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 12/10/2025, các lời khai tại hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Vương Thái H tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (cũ) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 07/8/2015. Từ khi chung sống với nhau tình cảm vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì vợ chồng có nhiều khúc mắc, bất đồng quan điểm. Hai bên đã rất cố gắng hoà giải, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng vẫn không tiếp tục chung sống với nhau như vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Vì mục đích hôn nhân là hạnh phúc nhưng không đạt được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung cũng đã mất, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Vương Thái H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Gia H1, sinh ngày 09/7/2016 và Nguyễn Ngọc Hà M, sinh ngày 29/6/2018. Ly hôn, chị D có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung. Chị D yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng/con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Tại bản tự khai đề ngày 31/10/2025, bị đơn anh Nguyễn Vương Thái H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Linh D tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (cũ) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 07/8/2015. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn do bất đồng quan điểm tính cách. Nay chị D có đơn xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Gia H1, sinh ngày 09/7/2016 và Nguyễn Ngọc Hà M, sinh ngày 29/6/2018. Ly hôn, chị D có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng/con, anh đồng ý.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật, đã tiến hành giải quyết vụ việc đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.
Thời hạn giải quyết vụ án đúng thời hạn xét xử theo như quy định Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2024 đến nay, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, việc chị D yêu cầu được ly hôn, anh H đồng ý nên đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ghi nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Gia H1, sinh ngày 09/7/2016 và Nguyễn Ngọc Hà M, sinh ngày 29/6/2018. Ly hôn, chị D có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng/con, anh H đồng ý là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên đề nghị Tòa án ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn anh Nguyễn Vương Thái H hiện đang sinh sống tại ấp X, xã L, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.
Về thủ tục tố tụng: Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị D, anh H.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân giữa chị D, anh H xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (cũ) đúng quy định pháp luật, theo giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 07/8/2015 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh H nhưng anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và thể hiện ý chí đồng ý ly hôn với nguyên đơn, đồng ý giao con chung và mức cấp dưỡng như nguyên đơn đề nghị và không yêu cầu hòa giải, không yêu cầu tài sản chung, nợ chung.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H mâu thuẫn đã lâu, đời sống chung không còn, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bị đơn cũng đồng ý ly hôn và không có ý kiến nào khác. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Gia H1, sinh ngày 09/7/2016 và Nguyễn Ngọc Hà M, sinh ngày 29/6/2018. Ly hôn, chị D có nguyện vọng nuôi dưỡng hai cháu, anh H đồng ý. Hiện các con đang do chị D nuôi dưỡng. Xét chị D đảm bảo điều kiện nuôi con. Vì vậy, ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con là phù hợp với nguyện vọng của các con và quy định pháp luật nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Chị D yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi con 3.000.000 đồng/tháng, anh H đồng ý nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.
[3] Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.
Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh D đối với bị đơn anh Nguyễn Vương Thái H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Xử cho chị Nguyễn Thị Linh D được ly hôn anh Nguyễn Vương Thái H.
2/ Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Gia H1, sinh ngày 09/7/2016 và Nguyễn Ngọc Hà M, sinh ngày 29/6/2018. Xử giao cho chị Nguyễn Thị Linh D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo Gia H1, Nguyễn Ngọc Hà M.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Vương Thái H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Bảo Gia H1 3.000.000 đồng/tháng; cháu Nguyễn Ngọc Hà M 3.000.000 đồng/tháng.
Anh Nguyễn Vương Thái H có quyền đến thăm con không ai được cản trở. Khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Linh D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003431 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ (chị D đã nộp xong).
5/ Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Linh D, anh Nguyễn Vương Thái H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Văn Ba - Phạm Đức Nhân
THẨM PHÁN
Đặng Thị Ngọc Tình
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Ngọc Tình
Bản án số 145/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 145/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Diễm xin ly hôn anh Học
