Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 145/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa

anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quỹ

Bà Nguyễn Văn Công

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19-03-2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lương Đức D, sinh năm 1991; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Số nhà A đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1996; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Số nhà A đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 26-02-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Lương Đức D trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường T (nay là phường N), thành phố N vào ngày 17-9-2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống. Mặc dù anh chị đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không đạt được kết quả. Từ đầu năm 2025 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, không chăm sóc nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn chị Nguyễn Thị V.

    Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị V có 02 con chung là Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 và Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021. Nếu ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và anh không yêu cầu chị Nguyễn Thị V cấp dưỡng nuôi con. Nếu chỉ được Tòa án giao nuôi 01 con thì anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Quỳnh C và đề nghị Tòa án giao cháu Lương Hà M cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Tại bản tự khai ngày 04-3-2025, bị đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lương Đức D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường T (nay là phường N), thành phố N vào ngày 17-9-2018. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn từ khoảng năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Từ đầu năm 2025 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, không chăm sóc nhau. Chị và anh D chưa có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn. Nay anh D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chị không đồng ý ly hôn vì chị vẫn còn tình cảm với anh D và vì các con còn nhỏ nên chị muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi con.

    Về con chung: Chị và anh Lương Đức D có 02 con chung là Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 và Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)/tháng. Trường hợp không được nuôi hai con thì chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Lương Hà M và đề nghị Tòa án giao cho anh D trực tiếp nuôi cháu Lương Quỳnh C; về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Tại Biên bản thu thập chứng cứ ngày 05-3-2025, chính quyền địa phương nơi anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V cư trú cung cấp: Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 17-9-2018 tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường N), thành phố N. Anh D1 và chị V có 02 con chung là Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 và Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021. Thời gian gần đây anh D1 và chị V có xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhâu mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì chính quyền địa phương không biết chính xác, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
  4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến:

    - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án:

    Về quan hệ pháp luật: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

    Về tư cách pháp lý về mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng nguyên đơn và bị đơn.

    Việc thụ lý vụ án: Tòa án thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Vấn đề thu thập chứng cứ: Việc thu thập chứng cứ của Tòa án được tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97, Điều 98, Điều 99 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã tiến hành theo đúng quy định tại Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp của Tòa án đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm báo cáo, đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 68, 69, 70, 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    - Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án:

    Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V.

    Về nuôi con: Giao cháu Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 cho anh Lương Đức D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

    Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 267-02-2025 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Lương Đức D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn chị Nguyễn Thị V và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh và chị V, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là chị Nguyễn Thị V không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa

Nguyên đơn là anh Lương Đức D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Nguyễn Thị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần 2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn là anh Lương Đức D và bị đơn là chị Nguyễn Thị V

[3] Về nội dung tranh chấp trong vụ án:

3.1. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường N), thành phố N vào ngày 17-9-2018. Như vậy, hôn nhân giữa anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V thì trong quá trình chung sống anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị C1 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng quan điểm sống. Từ đầu năm 2025 đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân, không quan tâm, không chăm sóc nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên hòa giải nhưng chị Nguyễn Thị V vắng mặt, không có lý do. Xét thấy hôn nhân giữa anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Lương Đức D: Xử ly hôn giữa anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2. Về nuôi con

Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V có 02 con chung là Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 và Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021. Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Tại bản tự khai, cả anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V Nếu đều trình bày: Trường hợp nếu Tòa án giao mỗi người nuôi một con thì anh Lương Đức D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 còn chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021. Xét thấy cả anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V đều có đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cho anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V mỗi người nuôi một con là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cháu Lương Hà M còn nhỏ nên Hội đồng xét xử giao cháu cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giao cháu Lương Quỳnh C cho anh Lương Đức D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Án phí ly hôn sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV: Anh Lương Đức D là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh Lương Đức D đã nộp được khấu trừ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;

  1. Xử ly hôn giữa anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V.
  2. Về nuôi con:
    • - Giao cháu Lương Quỳnh C (giới tính: Nữ), sinh ngày 16-3-2019 cho anh Lương Đức D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    • - Giao cháu Lương Hà M (giới tinh: Nữ), sinh ngày 28-12-2021 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con chung.
  5. Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lương Đức D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Lương Đức D đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002623 ngày 26-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
  6. Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: Anh Lương Đức D và chị Nguyễn Thị V có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định;
  • - Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định;
  • - UBND phường Trần Quang Khải (nay là phường Năng Tĩnh), thành phố Nam Định (GCNKH số 70, ngày 17-9-2018);
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Mai Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 145/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh D có đơn xin ly hôn chị V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger