Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2025/DSST

Ngày: 30/6/2025

V/v: Tranh chấp chia thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
  • 2. Ông Nguyễn Trọng Điệp
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 và ngày 30/6/2025 Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2024/TLST-DS ngày 01/4/2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2025/QĐXX-DS ngày 02/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2025/QĐST-DS ngày 18/6/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 125/2025/QĐST-DS ngày 23/6/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Thế H, sinh năm 1949; Địa chỉ: T 0623 Khu đô thị T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số E phố H, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 1276 ngày 10/4/2024 lập tại VPCC N) (Ông B có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đức T và Luật sư Dương Thị Kiều L – Công ty L3 - thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Tầng E, Lô V số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội (Luật sư T, Luật sư L có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Ngô Thế V, sinh năm 1952 (Đã chết ngày 18/6/2025). Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V là bà Nguyễn Thị Huyền N, sinh năm 1954; Chị Ngô Thu T1, sinh năm: 1979; Chị Ngô Thùy L1, sinh năm: 1994.
  2. Bà Nguyễn Thị Huyền N(Nguyễn Huyền N), sinh năm 1954; Nơi ĐKHKTT: 26 phố P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P Chung cư P ngõ A A, phường P, quận T, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V là anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1995; Địa chỉ liên hệ: Phòng 403 tầng D, số H N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Anh N1 có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Hồng B1, Luật sư Nguyễn Thị Hồng V1 – Luật sư Công ty L4 và Cộng sự - Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ liên hệ: Phòng 403 Tầng D, số H N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Luật sư V1 có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị Kim D, sinh năm: 1947; Địa chỉ: Số F phố V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Hà B2, sinh năm: 1954; Địa chỉ: Căn hộ F, Tòa nhà N Khu N, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. (Bà D có mặt).
  2. Bà Ngô Thị Hà B2, sinh năm: 1954; Địa chỉ: Căn hộ F, Tòa nhà N- T1 Khu ngoại giao đoàn, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. (Bà B2 có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà D và bà B2: Luật sư Chu Đ – Văn phòng L5 – Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ liên hệ: P, B16 TT K, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Luật sư Đ có mặt)

  1. Ông Ngô Thế D1, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Số A đường H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
  2. Chị Ngô Thu T1, sinh năm: 1979;
  3. Chị Ngô Thùy L1, sinh năm: 1994;

Cùng địa chỉ: P2414 R chung cư S, quận T, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của ông D1, chị T1, chị L1: Anh Nguyễn Văn N1 (Chị T1, chị L1, anh N1 có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T1, chị L1: Luật sư Nguyễn Hồng B1, Luật sư Nguyễn Thị Hồng V1 – Công ty L4 và Cộng sự - thuộc Đoàn luật sư thành phố H. (Luật sư V1 có mặt).

  1. Ủy ban nhân dân quận B; Địa chỉ: B L, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1. (Có đơn xin vắng mặt)
  2. Công ty TNHH một thành viên L3; Trụ sở: B T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Tiến D2. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Ngô Thế H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Thanh B trình bày như sau:

* Về quan hệ huyết thống: Cụ Ngô Văn H2 có vợ là cụ Nguyễn Thị L2. Cụ H2 chết năm 1992 (không để lại di chúc), cụ L2 chết năm 1999 (không để lại di chúc).

Cụ H2 và cụ L2 có 05 người con gồm:

  1. Bà Ngô Thị Kim D, sinh năm 1947;
  2. Ông Ngô Thế H, sinh năm 1949;
  3. Ông Ngô Thế V, sinh năm 1952;
  4. Bà Ngô Thị Hà B2, sinh năm 1954;
  5. Ông Ngô Thế D1, sinh năm 1961.

Ngoài ra cụ H2, cụ L2 không có con riêng con nuôi nào khác, không còn bố mẹ đẻ và không có bố mẹ nuôi.

* Về di sản thừa kế: Di sản thừa kế của cụ H2 cụ L2 để lại là nhà đất 25m² nhà tại biệt thự số B P và khoảng 70m² đất cũng tại B P. Trên 70m² đất này có 02 căn phòng cấp 4 diện tích là 14m² và 16m² và diện tích bếp gần 5m² (Giữa nhà và đất cách nhau một khoảng sân chung của khu tập thể). Ngoài di sản trên ra thì cụ H2 và cụ L2 không còn bất cứ di sản thừa kế nào khác.

Hiện nay trên phần nhà 25m² đã được cơi nới thêm thành 29,3m². Trên diện tích đất 70m² đã được ông H và ông V phá dỡ và xây dựng thành nhà 02 tầng vào năm 1994.

Nguồn gốc nhà đất tại B P do cụ H2 thuê của Văn phòng phủ Thủ tướng (nay là Văn phòng C) do trước đây cụ H2 là cán bộ công tác tại Văn phòng phủ Thủ tướng.

Ngày 07/4/1989 cụ H2 cụ L2 ký hợp đồng thuê nhà với Xí nghiệp quản lý và phát triển nhà Ba Đ1, những người đứng tên trong hợp đồng gồm: Cụ H2, cụ L2, ông H, ông V, bà N và chị T1.

Sau khi cụ H2 và cụ L2 chết, năm 2001 ông V được sự đồng ý của ông H và ông D1 nên ông V đứng tên ký hợp đồng thuê nhà với xí nghiệp Q, những người đứng tên trong hợp đồng thuê nhà gồm: Ông H, ông V, ông D1, bà N, chị T1, chị L1.

Năm 2003, ông H và ông D1 có đơn đề nghị để ông V nộp hồ sơ mua nhà theo Nghị định số 61/CP và đăng ký đứng tên sổ đỏ gồm 03 người là ông H, ông V và ông D1. Năm 2004 ông V ký hợp đồng mua nhà với Nhà nước theo Nghị định 61/CP. Khoảng năm 2005 ông V bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đứng tên ông Ngô Thế V và bà Nguyễn Thị Huyền N. Khi ký hợp đồng mua nhà thì ông H có biết và đồng ý để ông V được đứng tên. Có văn bản thỏa thuận giữa ông H, ông V, ông D1 đồng ý để ông V là người đại diện đứng tên. (Tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc thỏa thuận là Bản cam kết ngày 18/3/2004).

Tài liệu chứng cứ chứng minh 25m² nhà và khoảng 70m² đất tại số B P gồm: Cụ H2 là cán bộ công tác tại Văn phòng phủ Thủ tướng nên được phân nhà để ở với điều kiện phải trả tiền thuê cho Nhà nước. Khi được phân nhà gồm có 25m² nhà chính ở tầng 1 và 02 phòng nhà cấp 4 diện tích là 23,5m² tại 26 P.

Trong quá trình sử dụng cụ H2, cụ L2, ông H, ông V, bà D, bà B2, ông D1 đã cơi nới thành 29,3m² nhà biệt thự tầng 1 và khoảng khoảng 70m² đất.

Hiện tại nhà đất đang tranh chấp này không có ai sinh sống tại đây.

Do có mâu thuẫn nên ông V khóa cửa nhà 29m², vì vậy ông H không vào nhà được (trước khi ông V khóa cửa thì ông H đang ở đây). Đối với nhà đất 70m² hiện nay ông V đang quản lý sử dụng.

Ông Phạm Thanh B nộp Công văn số 1955 ngày 31/12/1999; Công văn số 555 ngày 19/02/1992; Công văn số 1095 ngày 26/3/1992 của Văn phòng Hội đồng bộ trưởng và khẳng định diện tích 9m² không phải là của ông T2 chuyển nhượng cho ông V. Ông H không đề nghị hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho ông V bà N. Sau này nếu được chia thì các đương sự sẽ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký biến động.

Ngày 06/10/2003 ông H, ông D1 có lập đơn đề nghị gửi Sở địa chính nhà đất có nội dung đồng ý để em trai là ông V và em dâu là bà N đứng tên mua nhà theo Nghị định 61/CP. Văn bản trên có xác nhận của đại diện UBND phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. Khi ông V bà N ký hợp đồng mua nhà theo Nghị định 61/CP là tiền riêng của ông V bà N là 505.442.000 đồng.

Số tiền ông V thanh toán cho ông H 45 cây vàng (tương đương 216.000.000 đồng, khoảng 4.800.000 đồng/1 cây vàng) là tiền giá trị xây dựng nhà cấp 4 xây thành nhà 2 tầng.

Ông H khẳng định giá trị xây dựng nhà 2 tầng (hiện nay là 3 tầng – tầng 3 do ông V xây thêm) là của ông V vì ông V đã thanh toán 45 cây vàng cho ông H. Ông H đề nghị chia thừa kế giá trị quyền sử dụng đất đối với nhà 2 tầng.

Đối với bản Nghị quyết của hội đồng gia đình ngày 18/3/2004, giấy cam kết thỏa thuận phân chia tài sản chung là nhà đất ngày 08/7/2010 là căn cứ chứng minh đó là tài sản của cụ H2, cụ L2 để chia thừa kế.

Ông Ngô Thế H đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Chia thừa kế di sản của cụ H2, cụ L2 là giá trị quyền sử dụng đất (khoảng 69,9m² đất) tại số B P. Trong đó khoảng 50m² đất chia cho những người thừa kế hợp pháp của 2 cụ là 5 anh chị em (gồm: ông H, ông V, ông D1, bà D, bà B2) theo quy định pháp luật và khoảng 20m² đất là phần cơi nới do công sức của ông H, ông V nên đề nghị Tòa án chia cho ông H, ông V.
  2. Xác định giá trị xây dựng căn nhà 2 tầng là của ông V vì ông V đã thanh toán phần giá trị xây dựng cho ông H.
  3. Xem xét công sức của ông H trong việc tôn tạo, xây dựng toàn bộ khối tài sản; tôn tạo, sửa chữa nâng cấp căn phòng 25 m² và toàn bộ giá trị 4,3 m² cơi nới thành 29,3m² (Đề nghị công nhận giá trị 4,3m² cơi nới là của ông H và đề nghị xem xét công sức tôn tạo sửa chữa nâng cấp căn phòng 25m²).
  4. Về chia hiện vật: Ông H có nguyện vọng nhận bằng hiện vật là căn phòng 29,3m² để ở và thờ cúng tổ tiên, cha mẹ; chia cho ông V nhà 02 tầng. Các bên sẽ thanh toán giá trị chênh lệch cho nhau.

Tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông H là: Các hợp đồng thuê nhà giữa cụ H2, cụ L2 với Nhà nước; Thỏa thuận của ông H, ông V, ông D1 ngày 08/7/2010; Bản nghị quyết của Hội đồng gia đình ngày 18/3/2004; Công văn số 1955 ngày 31/12/1999; Công văn số 555 ngày 19/02/1992; Công văn số 1095 ngày 26/3/1992 của Văn phòng Hội đồng bộ trưởng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông V do chị Ngô Thu T1 và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

* Về quan hệ huyết thống:

Cụ Ngô Văn H2 có vợ là cụ Nguyễn Thị L2 có 05 người con gồm: Bà Ngô Thị Kim D, sinh năm 1947; Ông Ngô Thế H, sinh năm 1949; Ông Ngô Thế V, sinh năm 1952; Bà Ngô Thị Hà B2, sinh năm 1954; Ông Ngô Thế D1, sinh năm 1961.

Ngoài ra cụ H2, cụ L2 không có con riêng con nuôi nào khác, không còn bố mẹ đẻ và không có bố mẹ nuôi.

Cụ H2 chết năm 1992 (không để lại di chúc), cụ L2 chết năm 1999 (không để lại di chúc).

Tài sản của cụ H2 cụ L2 để lại gồm: 25m² nhà biệt thự và 23m² nhà cấp 4 (trong đó 1 phòng là 9m², 1 phòng là 12m², bếp là 2m²).

Đối với phần diện tích khoảng 70m² nhà đất mà đại diện nguyên đơn trình bày là di sản thừa kế của cụ H2 cụ L2 để lại là không đúng. Vì cụ H2, cụ L2 chỉ ký hợp đồng thuê nhà với Nhà nước là 23m² nhà cấp 4 bán mái, còn lại khoảng 11m² là nhà của ông Nguyễn Văn T2 được Nhà nước cho ký hợp đồng thuê, sau đó ông T2 đề nghị Xí nghiệp quản lý nhà tiếp tục ký hợp đồng thuê nhà với ông V (có giấy xác nhận) và phần sử dụng chung của cụ H2, ông T2, ông P. Tổng diện tích là khoảng 70m² đất.

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: Nhà đất tại số B P có nguồn gốc thuộc sở hữu Nhà nước. Ngày 07/4/1989 bố mẹ bị đơn là cụ Ngô Văn H2 và Nguyễn Thị L2 đã ký hợp đồng thuê nhà số 142/VP với Sở nhà đất. Hợp đồng thuê nhà có 06 người gồm: cụ H2, cụ L2, ông H, ông V, bà N và chị T1. Tài sản thuê là 01 căn phòng 25m² (nhà biệt thự) và 01 nhà cấp 4 có diện tích 25,5m².

Năm 1994 cụ L2 có nguyện vọng nói bằng miệng với 05 người con đẻ và em gái của cụ L2 là cụ Nguyễn Ngọc B3, 93 tuổi hiện đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung là cho ông H và ông V ở nhà cấp 4, tự ông H ông V xây lên để ở. 01 căn phòng (biệt thự) diện tích 25m² là cho ông D1 (khi đó ông D1 đang ở nước ngoài).

Năm 1994 ông H và ông V thống nhất cùng xây nhà cấp 4 thành nhà 02 tầng 01 tum có cầu thang ở giữa đi chung. Đến cuối năm 1998 ông H bán lại toàn bộ diện tích của ông H cho ông V với giá tiền 45 cây vàng tương đương với 216.000.000 đồng (có giấy mua bán viết tay) để ông H mua nhà tại số A phố H, quận C, thành phố Hà Nội. Đến năm 2001 ông V ký hợp đồng thuê nhà với Xí nghiệp Q. Năm 2004 ông V ký hợp đồng mua nhà với Nhà nước theo Nghị định 61/CP. Năm 2005 ông V bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đứng tên ông Ngô Thế V và bà Nguyễn Thị Huyền N. Sau đó gia đình ông sinh sống ổn định từ đó đến nay.

Năm 2002 ông Ngô Thế D1 từ nước ngoài về ở tại 01 căn phòng (biệt thự) diện tích 25m². Năm 2013, ông D1 bán lại diện tích này cho ông V với giá tiền 3.000.000.000 đồng (có giấy tờ mua bán viết tay).

Bị đơn khẳng định nhà đất này là của vợ chồng ông V bà N. Ngày 12/5/2005, UBND quận B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 453105, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Q.1912/2005QĐ-UB/674/2005 đứng tên ông Ngô Thế V và bà Nguyễn Thị Huyền N. Vì vậy bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo hợp đồng thuê nhà số 142/VP ngày 07/4/1989 thì cụ H2 được quyền thuê nhà với diện tích tổng là 48m², không được quyền thuê đất ở.

Cụ H2 chết ngày 05/5/1992. Tính đến nay cụ H2 đã chết 32 năm, như vậy tính đến thời điểm hiện tại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. Ngày 06/5/2024, nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập về việc chia di sản thừa kế. Như vậy tính đến thời điểm hiện tại đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế.

Quyền thuê, mua nhà tại số B P không phải là quyền tài sản của cụ H2 chết để lại bởi cụ H2 chết năm 1992. Nghị định số 61/CP có hiệu lực ngày 05/7/1994. Như vậy tại thời điểm cụ H2 chết năm 1992 thì Nghị định 61/CP chưa được ban hành.

Căn cứ theo Pháp lệnh hợp đồng năm 1991 và Quyết định số 4565 ngày 27/10/1987 của UBND thành phố H thì quyền thuê nhà của cụ H2 đối với tài sản tại số B P bị chấm dứt.

Tài sản nhà đất tranh chấp trong vụ án là tài sản hợp pháp của ông V bà N vì ông V bà N mua theo Nghị định 61/CP và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ năm 1994 đến khi cụ L2 mất, cụ L2 không thực hiện/ không đủ điều kiện thực hiện quyền mua nhà theo Nghị định 61/CP.

Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà D, bà B2 rút yêu cầu độc lập. Bà D, bà Bắc nhượng lại phần di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà N với bà D, bà B2. Gia đình bà N sẽ hỗ trợ cho bà D 2.000.000.000 đồng, hỗ trợ cho bà B2 2.000.000.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2 trình bày như sau:

Về quan hệ huyết thống, thời điểm cụ Ngô Văn H2, cụ Nguyễn Thị L2 mất như nguyên đơn trình bày là đúng. Bà Ngô Thị Hà B2, bà Ngô Thị Kim D khẳng định thời điểm mua nhà theo Nghị định số 61/CP là tiền riêng của ông V. Bà D, bà B2 rút yêu cầu độc lập. Bà D, bà Bắc nhượng lại phần di sản thừa kế được chia cho gia đình bà N đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà N với bà D, bà B2 đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2. Gia đình bà N phải thanh toán cho bà D 2.000.000.000 đồng, thanh toán cho bà B2 2.000.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm ông Ngô Thế D1, chị L1, chị T1 đồng ý với ý kiến của bị đơn.

Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà N với bà D, bà B2. Bà D, bà Bắc nhượng lại phần di sản thừa kế được chia cho gia đình bà N đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2. Gia đình bà N phải thanh toán cho bà D 2.000.000.000 đồng, thanh toán cho bà B2 2.000.000.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Thế D1 do anh Nguyễn Văn N1 trình bày:

Ông Ngô Thế D1 đồng ý với toàn bộ ý kiến của bị đơn. Ông D1 nhường phần di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân quận B – Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn H1 trình này:

Biển số nhà B P thuộc Nhà nước quản lý. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Thế V và bà Nguyễn Thị Huyền N gồm có: Hợp đồng thuê nhà số 10037 ngày 23/3/2001 do Công ty K (bên cho thuê nhà) cho ông V (đại diện bên thuê nhà) thuê tầng 1, số nhà B P, diện tích 81,3m² và Hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước số 302/HĐMBN ngày 05/3/2004 do Công ty K (là đại diện) bán cho ông V diện tích nhà đất tại địa chỉ B P; diện tích đất sử dụng riêng: 69,9m², sử dụng chung: 147,7m² và phân bổ không hoạch định. Căn cứ Nghị định 61/CP và Điều 3 Quy trình kèm theo Quyết định số 38/2008/QĐ-UB ngày 29/3/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố H, trong đó quy định: Bên bán nhà phải chịu trách nhiệm toàn bộ về tính pháp lý

và tính chính xác hồ sơ bán nhà; Căn cứ Tờ trình số 25/TTr – CGCN ngày 29/7/2005 của Công ty K và hồ sơ kèm theo, Ủy ban nhân dân quận B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/10/2005 cho gia đình ông V, bà N, địa chỉ B P đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH một thành viên L3 do người đại diện theo ủy quyền là ông Phan Tiến D2 đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Chia thừa kế di sản của cụ H2, cụ L2 là giá trị quyền sử dụng đất (khoảng 69,9m² đất) tại số B P. Trong đó khoảng 50m² đất chia cho những người thừa kế hợp pháp của 2 cụ là 5 anh chị em (gồm: ông H, ông V, ông D2, bà D, bà B2) theo quy định pháp luật và khoảng 20m² đất là phần cơi nới do công sức của ông H, ông V nên đề nghị Tòa án chia cho ông H, ông V.
  2. Xác định giá trị xây dựng căn nhà 2 tầng là của ông V vì ông V đã thanh toán phần giá trị xây dựng cho ông H.
  3. Xem xét công sức của ông H trong việc tôn tạo, xây dựng toàn bộ khối tài sản; tôn tạo, sửa chữa nâng cấp căn phòng 25 m² và toàn bộ giá trị 4,3 m² cơi nới thành 29,3m² (Đề nghị công nhận giá trị 4,3m² cơi nới là của ông H và đề nghị xem xét công sức tôn tạo sửa chữa nâng cấp căn phòng 25m²).
  4. Đề nghị Tòa án chia cho ông H được nhận bằng hiện vật là căn phòng 29,3m² để ở và thờ cúng tổ tiên, cha mẹ; chia cho ông V nhà 02 tầng. Các bên sẽ thanh toán giá trị chênh lệch cho nhau.

- Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà Nguyễn Thị Huyền N với bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2. Gia đình bà N thanh toán cho bà D 2.000.000.000 đồng, thanh toán cho bà B2 2.000.000.000 đồng. Bà D và bà B2 rút toàn bộ yêu cầu độc lập và nhượng toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N, đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2 trình bày: Bà D, bà B2 rút toàn bộ yêu cầu độc lập và nhượng toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N, đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà Nguyễn Thị Huyền N với bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2.

Gia đình bà N thanh toán cho bà D 2.000.000.000 đồng, thanh toán cho bà B2 2.000.000.000 đồng.

- Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thế D1 trình bày: Ông D1 nhường phần di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểm:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thực hiện nguyên tắc hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điều 209; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63; Điều 226 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Thế H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2.

Di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2 được chia bằng giá trị quyền mua nhà có tổng giá trị là 5.043.666.666 đồng.

Giao cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông V là bà N, chị T1, chị L1 được quyền quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2 cùng toàn bộ diện tích nhà đất tại B P và tầng 1 khu biệt thự.

Bà N, chị T1, chị L1 có trách nhiệm thanh toán cho ông H một kỷ phần mà ông H được hưởng. Cũng như thanh toán cho ông H giá trị quyền mua nhà theo Nghị định 61/CP.

  1. Ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà Nguyễn Thị Huyền N đồng ý hỗ trợ cho bà Ngô Thị Hà B2 và bà Ngô Thị Kim D mỗi người 2.000.000.000 đồng. Bà B2 và bà D rút toàn bộ yêu cầu độc lập và nhượng toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà B2 và bà D.
  2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Ngô Thế D1 nhường lại toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho gia đình bà N.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế H về việc xác định giá trị xây dựng căn nhà 2 tầng là của ông Ngô Thế V vì ông V đã thanh toán phần giá trị xây dựng cho ông H.
  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đề nghị công nhận giá trị 4,3m² cơi nới là của ông H và đề nghị xem xét công sức tôn tạo sửa chữa nâng cấp căn phòng 25m².
  5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về nguyện vọng nhận hiện vật là căn phòng 29,3m² của ông Ngô Thế H.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đơn khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ pháp luật.

Thời hiệu khởi kiện: Được tính từ năm 1992 khi cụ H2 chết. Năm 2012, ông H có đơn khởi kiện, xác định có tranh chấp từ năm 2012 nên còn thời hiệu khởi kiện.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân quận B và Công ty TNHH một thành viên L3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung:

Về diện và hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế:

Cụ Ngô Văn H2 (chết năm 1992) và cụ Nguyễn Thị L2 (chết năm 1999), hai cụ chết không để lại di chúc. Hai cụ có 05 con chung gồm bà Ngô Thị Kim D, sinh năm 1947; Ông Ngô Thế H, sinh năm 1949; Ông Ngô Thế V, sinh năm 1952; Bà Ngô Thị Hà B2, sinh năm 1954; Ông Ngô Thế D1, sinh năm 1961.

Ngoài ra cụ H2, cụ L2 không có người con chung, con riêng, con nuôi nào khác; không còn bố mẹ đẻ và không có bố mẹ nuôi.

Về di sản thừa kế:

Tại thời điểm ký kết hợp đồng thuê nhà số 142/VP ngày 07/4/1989, bên thuê nhà gồm 06 người là cụ H2, cụ L2, ông H, ông V, bà N, chị T1. Theo quy định tại Điều 496 Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 497 Bộ luật dân sự năm 2005 những người có quyền mua lại nhà theo Nghị định 61/CP bao gồm các thành viên có tên trong hợp đồng thuê nhà là: cụ H2, cụ L2, ông H, ông V, bà N, chị T1.

Tờ khai về việc sử dụng nhà ở ngày 25/3/1989 và Tờ khai diện tích nhà ngày 30/5/1994 xác nhận diện tích sử dụng của bên thuê nhà là 69,9m², trong đó diện tích ở là 51,7m² (BT: 25,8m²; cấp 4: 25,9m²), diện tích phụ riêng biệt là 18,2m² (cấp 4: 14,7m², BT: 3,5m²). Như vậy, diện tích quyền sử dụng đất và sở hữu nhà gia đình cụ H2 được mua bao gồm 02 phần: nhà biệt thự là 29,3m² và diện tích nhà cấp 4 là 40,6m². Tổng diện tích 69,9 m².

Về nhà trên đất: Nhà cấp 4 trên đất, các bên đương sự xác nhận không còn. Các đương sự xác nhận nhà do ông H, ông V bỏ tiền đứng ra xây dựng năm 1994, ông H xác nhận đã nhận tiền xây dựng nhà từ ông V nên ông H và bà D, bà B2, ông D1 không tranh chấp về nhà xây dựng trên đất. Nhà trên đất không phải là di sản thừa kế của cụ H2, cụ L2.

Về yêu cầu khởi kiện:

* Ông H đề nghị chia thừa kế di sản của cụ H2, cụ L2 là giá trị quyền sử dụng đất (khoảng 69,9m² đất) tại số B P. Trong đó khoảng 50m² đất chia cho những người thừa kế hợp pháp của 2 cụ là 5 anh chị em (gồm: ông H, ông V, ông D1, bà D, bà B2) theo quy định pháp luật và khoảng 20m² đất là phần cơi nới do công sức của ông H, ông V nên đề nghị Tòa án chia cho ông H, ông V.

Hội đồng xét xử xét thấy về nguồn gốc nhà số B P: Tại tờ khai về việc sử dụng nhà ở ngày 25/3/1989 có nội dung là Cơ quan Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng xác nhận cụ Ngô Văn H2 là Đoàn trưởng đoàn xe Văn phòng Hội đồng Bộ trường (đã về hưu) được phân phối ở nhà đất tại số B P. Số người trong hộ là 06 người gồm cụ H2, cụ L2, ông H, ông V, bà N và chị T1. Tại Hợp đồng thuê nhà số 142/VP ngày 07/4/1989 có nội dung là Cơ quan quản lý nhà đất B4 để vợ chồng cụ H2 và cụ L2, hộ khẩu thường trú gồm 06 người được thuê nhà điện tích 25m² nhà chính tầng 1 và nhà cấp bốn bán mái diện tích 23m² tại số B P, thời hạn thuê 02 năm kể từ tháng 01/1989 đến tháng 12/1990. Tờ khai về việc sử dụng nhà ở ngày 25/3/1989 và Tờ khai diện tích nhà ngày 30/5/1994 xác nhận diện tích sử dụng bên thuê nhà là 69,9m², trong đó diện tích ở là 51,7m² (BT: 25,8m², cấp 4: 25,9m²), diện tích phụ riêng biệt là 18,2m² (Cấp 4: 14,7m², BT: 3,5m²). Ngày 21/12/2000, ông V có đơn xin sang tên Hợp đồng thuê nhà của cụ H2, lý do là chủ Hợp đồng thuê nhà số A đã chết. Như vậy, nguồn gốc căn nhà

số B P là do Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng phân phối cho cụ H2 (Đoàn trưởng đoàn xe) ở và hàng tháng hoàn trả tiền nhà qua lương. Cụ H2 chưa làm thủ tục mua hóa giá nhà đối với nhà 26 P, năm 1992 cụ H2 chết nên theo quy định tại Điều 188 và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 1995 thì quyền thuê, mua hóa giá nhà của cụ H2 là quyền tài sản (giá trị bằng tiền) và được chuyển giao cho các thừa kế của cụ H2.

Về quá trình quản lý, sử dụng: Tháng 12/2000, ông V có đơn xin ký hợp đồng thuê 7m² tầng 1 tại số B P trước đây đứng tên chủ hợp đồng thuê là ông Nguyễn Văn T2 (nay chuyển đi nơi ở khác) và ngày 29/12/2000 được Xí nghiệp kinh doanh nhà Ba Đ1 xác nhận. Ngày 13/3/2001, Công ty K1 đã ký Hợp đồng thuê nhà số A với đại diện bên thuê nhà là ông V để thuê tổng diện tích 81,3m²; Trong đó diện tích 69,9m² ký thuê lại từ cụ H2, cụ L2 đã chết (gồm diện tích nhà cấp 4 phía trong và diện tích nhà tầng 1 biệt thự) và nhận chuyển nhượng thuê lại từ ông Nguyễn Văn T2 diện tích 11,4m², thời hạn thuê 03 năm kể từ ngày 08/3/2001 đến ngày 08/3/2004. Các thành viên trong hợp đồng thuê nhà số 10037 trên gồm ông V, bà N, chị T1, chị L1, ông H, ông D1. Ngày 06/10/2003, ông H và ông D1 có đơn đề nghị gửi Sở Địa chính nhà đất, Công ty kinh doanh nhà số A và Xí nghiệp kinh doanh nhà Ba Đ1 với nội dung: “... Đồng ý để em trai là Ngô Thế V và em dâu Nguyễn Thị Huyền N đứng tên mua nhà trên theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về việc bán nhà ở sở hữu Nhà nước cho người đang ở thuê ”. Văn bản trên có xác nhận chữ ký của đại diện Ủy ban nhân dân phường Q Ngày 26/3/2004, ông H và ông D1 tiếp tục có Đơn đề nghị rút lại Đơn ngày 06/10/2003, vẫn thống nhất để ông V đứng tên trong đơn mua nhà theo Nghị định 61/CP và gửi kèm cam kết ngày 18/3/2004 (ông V sẽ thay mặt hai anh em làm “sổ đỏ”, nếu “sổ đỏ” không có tên ba anh em thì mọi người có quyền khiếu nại). Ngày 12/10/2005, Ủy ban nhân dân quận B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Ngô Thế V và vợ là bà Nguyễn Thị Huyền N, theo đó diện tích sử dụng riêng là 69,9m², diện tích sử dụng chung là 212,7m².

Như vậy, có căn cứ xác định, nhà đất đang tranh chấp tại 26 P có nguồn gốc do Nhà nước phân bổ cho cụ H2, cụ L2 thuê. Sau khi cụ H2, cụ L2 chết, ông V là đại diện chủ hộ tiếp tục ký Hợp đồng thuê nhà và thực hiện các thủ tục và nghĩa vụ tài chính để được mua nhà theo Nghị định 61/CP vào năm 2004 với giá 505.442.000 đồng. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ là “Giấy nhượng nhà” viết tay ghi tháng 11/1998 có nội dung ông H xác nhận đồng ý nhượng lại cho ông V toàn bộ diện tích nhà nói trên với giá là 45 cây vàng (tương đương 216.000.000 đồng). Ông H đã nhận đủ số tiền trên và bàn giao nhà cho ông V. Ngoài ra, có 01 “Giấy chuyển nhượng” viết tay ghi tháng 11/1998 có nội dung: Ông H chuyển nhượng diện tích 35m² với số tiền là 200.000.000 đồng, đây không kể tiền đất, người làm chứng là ông D1. Quá trình giải quyết vụ án, ông H khai thực tế ông chỉ nhận 150.000.000 đồng (là tiền thanh toán giá trị ngôi nhà ba tầng làm chung với ông V từ năm 1994), ông H không chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy

nhiên ông V, bà N, ông D1, bà B2, bà D đều thống nhất xác định là năm 1998 ông H chuyển nhượng toàn bộ nhà và quyền sử dụng đất ở chung với ông V với giá 45 cây vàng, sau đó ông H đã đi mua nhà và sinh sống tại A H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.

Xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế H về việc đề nghị chia di sản thừa kế của cụ H2 cụ L2 để lại 69,9m² đất tại nhà phía trong là không có căn cứ vì thực tế diện tích 69,9m² đất được cấp Giấy chứng nhận đã bao gồm 11,4m² đất ông Ngô Thế V mua của ông Nguyễn Văn T2 nên phải trừ diện tích 11,4m² đất do ông V mua của ông T2.

Nhà, công trình trên đất các đương sự trong vụ án thống nhất xác định là do ông Ngô Thế V, ông Ngô Thế H và ông Ngô Thế D1 tạo lập. Ông H và ông D1 đã chuyển nhượng toàn bộ giá trị xây dựng cho ông V nên không xác định tài sản trên đất là tài sản có tranh chấp. Chỉ có cơ sở xác định quyền sử dụng đất là tài sản đang có tranh chấp. Tổng giá trị nhà đất tại số B P theo kết quả định giá ngày 12/11/2024 là:

  • Giá trị quyền sử dụng đất thửa đất phía trong, diện tích 69,9m² x 251.326.000 đồng/m² = 17.567.687.400 đồng;
  • Giá trị quyền sử dụng đất thửa đất phía ngoài, diện tích 29,3m² x 171.000.000 đồng/m² = 5.010.300.000 đồng;

Như vậy tổng giá trị quyền sử dụng đất là: 22.577.987.400 đồng.

Xác định diện tích 11,4m² đất ông V mua của ông T2 có giá trị là: 11,4m² x 251.326.000đồng/m² = 2.865.116.400 đồng.

Năm 2004, ông V đã đóng số tiền mua nhà cho Nhà nước là: 505.442.000 đồng. Trong đó, số tiền đóng cho diện tích 11,4m² là: 31.734.640 đồng (BL 661). Như vậy, số tiền ông V đã dùng để đóng khi mua diện tích đất còn lại là: 505.442.000 đồng - 31.734.640 đồng = 473.707.360 đồng.

Xét thấy ông Ngô Thế V, bà Nguyễn Thị Huyền N là người sinh sống trên đất, có công gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị của di sản thừa kế, là người đóng thuế đất hàng năm cho tổng diện tích của các đồng thừa kế khác. Đồng thời, ông V là người đóng tiền mua nhà theo hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước số 302/HĐMBN ngày 05/3/2004 nên cần tính lãi cho số tiền mà ông V đã bỏ ra làm tăng giá trị đất như hiện nay theo mức lãi suất trung bình tại thời điểm xét xử là 6%/1 năm, thời gian làm tròn là: 21 năm, thành tiền là: 473.707.360 đồng x 6% x 21 năm = 596.871.274 đồng.

Như vậy, trước khi chia di sản thừa kế, cần trừ đi số tiền ông V đã bỏ ra đóng cho Nhà nước để mua nhà theo Nghị định 61/CP và lãi suất của số tiền trên là: 473.707.360 đồng + 596.871.274 đồng = 1.070.578.634 đồng.

Giá trị tài sản còn lại là: 22.577.987.400 đồng - 2.865.116.400 đồng - 1.070.578.634 đồng = 18.642.292.366 đồng.

Theo hợp đồng thuê nhà ngày 03/02/1989, hợp đồng gồm có 06 thành viên là: cụ Ngô Văn H2, cụ Nguyễn Thị L2, ông Ngô Thế H, ông Ngô Thế V, bà Nguyễn Thị Huyền N và chị Ngô Thu T1. Các thành viên trong hợp đồng thuê nhà có quyền ngang nhau nên khi cụ H2, cụ L2 chết, giá trị quyền sử dụng đất được chia thành 6 phần như sau: 18.642.292.366 đồng : 6 = 3.107.048.728 đồng.

Phần của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2 là: 3.107.048.728 đồng x 2 = 6.214.097.455 đồng.

Chia thừa kế của cụ H2 và cụ L2 cho 05 thừa kế gồm: ông Ngô Thế H, ông Ngô Thế V, ông Ngô Thế D1, bà Ngô Thị Hà B2, bà Ngô Thị Kịm D3 mỗi thừa kế được hưởng: 6.214.097.455 đồng : 5 = 1.242.819.491 đồng. (Nay ông V đã chết thì chia cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông V là bà N, chị T1, chị L1). Tuy nhiên ông D1 nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà N; Chị T1, chị L1 nhường phần thừa kế được hưởng cho bà N. Ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà N với bà D3, bà B2. Gia đình bà N thanh toán cho bà D3 2.000.000.000 đồng, thanh toán cho bà B2 2.000.000.000 đồng. Bà D3 và bà Bắc nhượng kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà N, đồng thời bà D3 và bà B2 không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ H2 và cụ L2.

* Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị xác định giá trị xây dựng căn nhà 2 tầng là của ông V, ông V đã thanh toán phần giá trị xây dựng cho ông H. Xét thấy các bên đều thống nhất, không có tranh chấp nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của ông H.

* Đối với yêu cầu về việc xem xét công sức của ông Ngô Thế H trong việc tôn tạo, xây dựng toàn bộ khối tài sản; tôn tạo, sửa chữa nâng cấp căn phòng 25 m² và toàn bộ giá trị 4,3 m² cơi nới thành 29,3m² (Đề nghị công nhận giá trị 4,3m² cơi nới là của ông H và đề nghị xem xét công sức tôn tạo sửa chữa nâng cấp căn phòng 25m²). Tuy nhiên, ông H không có tài liệu chứng cứ nào để chứng minh. Ông H đã chuyển ra ngoài sinh sống, không sinh sống tại đây từ năm 1998 nên không có căn cứ để chấp nhận.

* Đối với yêu cầu của ông Ngô Thế H có nguyện vọng nhận bằng hiện vật là căn phòng 29,3m² để ở và thờ cúng tổ tiên, cha mẹ; chia cho ông V nhà 02 tầng, các bên sẽ thanh toán giá trị chênh lệch cho nhau. Hội đồng xét xử xét thấy: Gia đình ông V bà N liên tục quản lý, sử dụng nhà đất tầng 1 biệt thự, vẫn duy trì sử dụng làm nơi thờ cúng các cụ. Khi Tòa án đến xem xét thẩm định tại chỗ thì thấy hiện trạng tầng 1 nhà biệt thự vẫn đang là nơi thờ cúng các cụ. Trước khi ông V mất, ông V cũng có nguyện vọng để gia đình ông tiếp tục được quản lý, sử dụng, sở hữu diện tích đất trên để làm nơi thờ cúng các cụ. Bà D3, bà B2, ông D1 cũng xác nhận việc ông H đã

chuyển ra ngoài sinh sống từ năm 1998 đến nay. Ông D1, bà D3, bà B2, chị T1, chị L1 đều nhường lại kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà N. Đồng thời xét thấy diện tích này không đủ điều kiện tách thửa theo Điều 14 về điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất (thực hiện khoản 4 Điều 220 Luật Đất đai) – Quyết định 61/2024/QĐ-UBND ngày 27/9/2024 của UBND thành phố H về ban hành quy định về một số nội dung thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội (Khu vực phường, thị trấn: diện tích không nhỏ hơn 50m²) nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông Ngô Thế H.

Nhận thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2004, thực tế gia đình ông Ngô Thế V đã sinh sống ổn định tại địa chỉ này. Ông Ngô Thế D1, ông Ngô Thế H đã mua nhà ở nơi khác để sinh sống; Bà B2, bà D3 sinh sống cùng gia đình nhà chồng. Ông V đã bỏ tiền thuê thêm, mua thêm nhà để tăng diện tích sử dụng, gia đình ông V có quyền được mua 3/6 giá trị nhà đất, ông V lại được chia di sản thừa kế nhiều hơn phần các anh chị em trong nhà. Do đó, việc giao cho gia đình bà N được quyền quản lý, sử dụng, sở hữu toàn bộ di sản thừa kế cũng như toàn bộ diện tích đất tại B P là phù hợp với thực tế quản lý sử dụng tài sản và quy định của pháp luật. Gia đình bà N có trách nhiệm thanh toán cho các đồng thừa kế kỷ phần mà họ được hưởng. Cũng như thanh toán cho ông H giá trị quyền mua nhà theo Nghị định 61/CP.

- Phần chia bằng hiện vật:

  • + Chia cho bà Nguyễn Thị Huyền N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V (bà Nguyễn Thị Huyền N, chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1) được sở hữu sử dụng diện tích chính tầng 1 biệt thự có diện tích 29,3m² được giới hạn bởi các điểm: 14,15,16,17,18,19,14 và các diện tích chung phân bổ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 453105 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Q.1912/2005/QĐ-UB/674/2005 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 12/10/2005, tại B P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội (có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).
  • + Chia cho bà Nguyễn Thị Huyền N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V (bà Nguyễn Thị Huyền N, chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1) quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn kết liền với đất có diện tích 69,9m², được giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,4',11',11,12,13,1 và các diện tích chung phân bổ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 453105 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Q.1912/2005/QĐ-UB/674/2005 do Ủy ban nhân nhân dân quận B cấp ngày 12/10/2005, tại B P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội (có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).

Chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1 nhường lại kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà Nguyễn Thị Huyền N.

- Thanh toán chênh lệch: So với kỷ phần được hưởng, nghĩa vụ thanh toán chênh lệch được xác định như sau:

  • + Bà Nguyễn Thị Huyền N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V gồm bà bà Nguyễn Thị Huyền N, chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1 phải thanh toán cho ông Ngô Thế H số tiền 4.349.868.219 đồng.
  • + Ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà Nguyễn Thị Huyền N với bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2. Gia đình bà N phải thanh toán cho bà Ngô Thị Kim D 2.000.000.000 đồng, thanh toán cho bà Ngô Thị Hà B2 2.000.000.000 đồng. Bà Ngô Thị Kim D và bà Ngô Thị Hà B2 nhượng toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho bà Nguyễn Thị Huyền N, đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2.
  • + Tại phiên tòa, bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2 có đơn xin rút yêu cầu độc lập nên đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2.
  • + Phần di sản thừa kế mà ông Ngô Thế D1, chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1 được hưởng: Ông Ngô Thế D1, chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1 nhường lại kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà Nguyễn Thị Huyền N.

[4]. Về án phí:

Căn cứ Luật Người cao tuổi năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định miễn phí tạm ứng án phí, án phí đối với người cao tuổi. Ông H, bà N, bà D, bà B2, ông D1 đều có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên miễn án phí cho ông H, bà N, bà D, bà B2, ông D1.

Ông Ngô Thế H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.700.000 đồng theo biên lai số 0009359 ngày 23 tháng 03 năm 2012 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

[5]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 188, 496 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 497 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ vào các Điều 612; Điều 615; Điều 617; Điều 618; Điều 623; Điều 649; Điều 650; điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Án lệ số 31/2020/AL ngày 05/02/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về xác định quyền thuê nhà, mua nhà thuộc sở hữu của nhà nước theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính Phủ về quyền tài sản.

- Điều 2 của Luật người cao tuổi năm 2009.

- Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế H đối với ông Ngô Thế V (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V gồm bà Nguyễn Thị Huyền N (Nguyễn Huyền N), chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1) và bà Nguyễn Thị Huyền N về việc chia di sản thừa kế là nhà đất tại B P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội.
  2. Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Ngô Văn H2 năm 1992; thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thị L2 năm 1999.
  3. Xác định cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2 chết không để lại di chúc. Nhập thời điểm chia thừa kế theo pháp luật của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2 vào cùng một lần.
  4. Xác định người thừa kế theo pháp luật của cụ Ngô Văn H2, cụ Nguyễn Thị L2 gồm bà Ngô Thị Kim D, ông Ngô Thế H, ông Ngô Thế V, bà Ngô Thị Hà B2, ông Ngô Thế D1.
  5. Xác định quyền sử dụng đất tại số B P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội có giá trị:
    • Giá trị quyền sử dụng đất thửa đất phía trong, diện tích 69,9m² = 17.567.687.400 đồng;
    • Giá trị quyền sử dụng đất thửa đất phía ngoài (tầng 1 biệt thự), diện tích 29,3m² = 5.010.300.000 đồng;
    • Tổng giá trị quyền sử dụng đất là: 22.577.987.400 đồng.
  6. Xác định diện tích 11,4m² đất ông Ngô Thế V mua của ông Nguyễn Văn T2 là tài sản riêng của ông Ngô Thế V có giá trị là: 2.865.116.400 đồng.
  7. Hoàn trả và trích công sức cho ông Ngô Thế V số tiền đã nộp cho Nhà nước khi mua nhà theo Nghị định 61/CP là: 1.070.578.634 đồng.
  8. Xác định giá trị tài sản còn lại là: 22.577.987.400 đồng - 2.865.116.400 đồng - 1.070.578.634 đồng = 18.642.292.366 đồng.
  9. Chia tài sản chung cho 06 thành viên trong hợp đồng thuê nhà là: cụ Ngô Văn H2, cụ Nguyễn Thị L2, ông Ngô Thế H, ông Ngô Thế V, bà Nguyễn Thị Huyền N và chị Ngô Thu T1. Mỗi phần được hưởng: 3.107.048.728 đồng.
  10. Xác định di sản thừa kế của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2 là: 3.107.048.728 đồng x 2 = 6.214.097.455 đồng.
  11. Chia thừa kế bằng giá trị của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2 cho 05 thừa kế gồm: ông Ngô Thế H, ông Ngô Thế V, ông Ngô Thế D1, bà Ngô Thị Hà B2, bà Ngô Thị Kim D mỗi thừa kế được hưởng: 1.242.819.491 đồng.
  12. Chia bằng hiện vật:
    • + Chia cho bà Nguyễn Thị Huyền N (Nguyễn Huyền N) được quyền sử dụng, sở hữu diện tích chính tầng 1 biệt thự có diện tích 29,3m² được giới hạn bởi các điểm: 14,15,16,17,18,19,14 và các diện tích chung phân bổ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 453105 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Q.1912/2005/QĐ-UB/674/2005 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 12/10/2005, tại B P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. (Có sơ đồ thửa đất kèm theo Bản án).
    • + Chia cho bà Nguyễn Thị Huyền N (Nguyễn Huyền N) được quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn kết liền với đất có diện tích 69,9m² được giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,4',11',11,12,13,1 và các diện tích chung phân bổ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 453105 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Q.1912/2005/QĐ-UB/674/2005 do Ủy ban nhân nhân dân quận B cấp ngày 12/10/2005, tại B P, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. (Có sơ đồ thửa đất kèm theo Bản án).
  13. Thanh toán chênh lệch:
    • + Bà Nguyễn Thị Huyền N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V gồm bà Nguyễn Thị Huyền N, chị Ngô Thu T1, chị Ngô Thùy L1 phải thanh toán cho ông Ngô Thế H số tiền 4.349.868.219 đồng. (Bốn tỷ, ba trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, hai trăm mười chín đồng);
    • + Ghi nhận sự thỏa thuận của gia đình bà Nguyễn Thị Huyền N với bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2. Gia đình bà Nguyễn Thị Huyền N phải thanh toán cho bà Ngô Thị Kim D 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), thanh toán cho bà Ngô Thị Hà B2 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Bà Ngô Thị Kim D và bà Ngô Thị Hà B2 nhượng toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng cho bà Nguyễn Thị Huyền N, đồng thời sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào đối với di sản thừa kế của cụ Ngô Văn H2 và cụ Nguyễn Thị L2.
  14. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế H về việc xác định giá trị xây dựng căn nhà 2 tầng là của ông Ngô Thế V vì ông Ngô Thế V đã thanh toán phần giá trị xây dựng cho ông Ngô Thế H.
  15. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế H về việc đề nghị công nhận giá trị 4,3m² cơi nới là của ông Ngô Thế H và đề nghị xem xét công sức tôn tạo sửa chữa nâng cấp căn phòng 25m².
  16. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế H về nguyện vọng nhận hiện vật là tầng 1 biệt thự có diện tích là 29,3m².
  17. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2.
  18. Về án phí dân sự:
    • Miễn nộp tiền án phí cho ông Ngô Thế H, ông Ngô Thế H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.700.000 đồng (Ba mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009359 ngày 23 tháng 3 năm 2012 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
    • Miễn nộp tiền án phí cho bà Nguyễn Thị Huyền N (Nguyễn Huyền N), bà Ngô Thị Kim D, bà Ngô Thị Hà B2, ông Ngô Thế D1.
  19. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  20. Trường hợp Bản án, quyết định này được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  21. Quyền kháng cáo
    • Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
    • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2025/DSST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 145/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Ngô Thế H, sinh năm 1949; Địa chỉ: T 0623 Khu đô thị T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số E phố H, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 1276 ngày 10/4/2024 lập tại VPCC N) (Ông B có mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đức T và Luật sư Dương Thị Kiều L – Công ty L3 - thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Tầng E, Lô V số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội (Luật sư T, Luật sư L có mặt). - Bị đơn: 1. Ông Ngô Thế V, sinh năm 1952 (Đã chết ngày 18/6/2025). Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Thế V là bà Nguyễn Thị Huyền N, sinh năm 1954; Chị Ngô Thu T1, sinh năm: 1979; Chị Ngô Thùy L1, sinh năm: 1994.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger