TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 145/2025/DS-PT Ngày 16-6-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hùng
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh vụ án dân sự thụ lý số 38/2025/TLPT-DS, ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án sơ thẩm số 06/2025/DS-ST, ngày 16-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện D bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 43/2025/QĐ-PT, ngày 21 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 54/2025/QĐ-PT, ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Văn D và ông Nguyễn Thành T1, là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Ông Phạm Minh T2, là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (Ông D vắng mặt, ông T1 và ông T2 có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1931 (vắng mặt)
- Chị Dương Thị T3; sinh năm 1963 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của các bị đơn: Chị Lê Thụy Thanh S, sinh năm 1980; cư trú tại ấp V, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2023" (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1952; cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn M: Bà Trần Thị P1, sinh năm 1966; cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Chị Lê Thị T4, sinh năm 1977; cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Anh Dương Văn I, sinh năm 1965; cư trú tại ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Anh Dương Văn P2, sinh năm 1975; cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh P2: Chị Lê Thụy Thanh S, sinh năm 1980; cư trú tại ấp V, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2023" (có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 10 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Vào năm 2009, anh được cha ruột tên ông Nguyễn Văn M tặng cho một thửa đất để canh tác, sử dụng. Nhưng, vợ chồng anh đi làm thuê ở tỉnh Ninh Thuận cho đến năm 2021 mới trở về địa phương và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Anh được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tì Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/12/2021, diện tích 2.833,5m², thửa số 86, tờ bản đồ số 07, toạ lạc ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh T. Lúc này, anh phát hiện bà Nguyễn Thị P và Dương Thị T3 tự ý đến xây dựng nhà ở trên diện tích đất của anh, nên anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P, chị T3 và anh P2 di dời căn nhà, tài sản có trên đất để trả lại diện tích đất thực tế đo đạc là 2.561,3m² cho anh sử dụng.
Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 14 tháng 5 năm 2024 của các bị đơn bà Nguyễn Thị P, chị Dương Thị T3 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện hợp pháp của các bị đơn, chị Lê Thụy Thanh S trình bày: Nguồn gốc đất thửa số 86, diện tích 2.962m², tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp P (Nay là ấp Đ), xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh là của anh Dương Văn P2 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị S1 vào ngày 10/4/1995, với số tiền bằng 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), tương đương 01 chỉ 02 phân vàng 24 kara. Do anh P2 đi ghe biển ở Cà Mau không có ở địa phương nên anh P2 để cho bà P đứng tên quyền sử dụng đất. Bà P không có chuyển nhượng diện tích đất thửa số 86 cho ông M. Bà P chỉ chuyển nhượng đất ruộng muối, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh cho ông M. Riêng căn nhà của bà P đang ở hiện nay là xây dựng trên diện tích đất của ông Tô Văn Í và bà Nguyễn Thị L cho bà P ở từ năm 1990 cho đến nay. Vì vậy, bà P và chị T3 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh T. Đồng thời, bà P và chị P3 yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M với bà P ngày 11/11/2003; vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông M và bà Nguyễn Thị H với anh T; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tì Vinh cấp cho anh T ngày 31/12/2021.
Theo đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 16 tháng 7 năm 2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn P2 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện hợp pháp của anh P2, chị Lê Thụy Thanh S trình bày: Thống nhất theo ý kiến và yêu cầu của bà P và chị T3. Đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của anh P2.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn I trình bày: Việc ông M và anh T cho rằng có nhận chuyển nhượng 03 thửa đất của bà P là không đúng. Vì trước đây, vào năm 1998 thì anh chỉ chuyển nhượng thửa đất số 166, diện tích 3.582m² và thửa đất số 165, diện tích 6.591m² cho ông M. Lúc đó, chưa được cấp quyền sử dụng đất và khi chuyển nhượng đất cho ông M cũng không có làm giấy tờ và không có ai biết.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày: Vào năm 2003, ông có nhận chuyển nhượng đất của bà P là 13 công, với giá bằng 4,3 (Bốn phẩy ba) cây vàng 24 kara. Có một thửa đất ở ấp Đ và một thửa đất ở ấp Đ cùng xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Nhưng ông không nhớ cụ thể từng thửa. Khi đó, có làm giấy viết tay, bà P có ký tên và ông đem đến Ban nhân dân ấp xác nhận. Sau này, làm hợp đồng chuyển nhượng tại Ủy ban nhân dân xã, bà P cũng ký tên. Đến năm 2009, ông tặng cho T diện tích đất, nên anh T toàn quyền quyết định về tranh chấp đất đai.
Tại bản án sơ thẩm số 06/2025/DS-ST, ngày 16-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện D đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 166, Điều 167 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 135, Điều 138, Điều 171, Điều 235 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2024; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị P, chị Dương Thị T3 và anh Dương Văn P2 di dời căn nhà, tài sản gắn liền với đất để giao trả diện tích 2.561,3m², thửa số 86, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Văn T, thửa số 86, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Dương Văn P2.
Công nhận diện tích đất tranh chấp 2.561,3m² (Gồm phần A, diện tích 37,2m² và phần D, diện tích 2.524,1m²), thửa số 86, tờ bản đồ số 07, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh cho anh Dương Văn P2 được quyền quản lý và sử dụng. Có tứ cận và kích thước như sau:
Phần A, diện tích 37,2m²:
- - Hướng Đông giáp thửa số 88, kích thước 12 mét;
- - Hướng Tây giáp thửa số 86, kích thước 12 mét;
- - Hướng Nam giáp thửa số 86, kích thước 2,96 mét;
- - Hướng Bắc giáp thửa số 86, kích thước 3,24 mét.
Phần D, diện tích 2.524,1m²:
- - Hướng Đông giáp thửa số 87 và thửa số 88, kích thước 16,24 mét + 52,96 mét + 4,57 mét + 12,00 mét + 4,7 mét;
- - Hướng Tây giáp Đường bê tông, kích thước 71,95 mét + 8,1 mét;
- - Hướng Nam giáp Đường bê tông, kích thước 13,36 mét + 8,96 mét;
- - Hướng Bắc giáp thửa số 86 và thửa số 87, kích thước 7,45 mét + 22,58 mét.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật anh Dương Văn P2 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất với diện tích đất nêu trên và thực hiện nghĩa vụ về đất đai theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 02 năm 2025, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P và không chấp nhận yều cầu độc lập của anh Dương Văn P2.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Tòa án sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng về việc nhận ủy quyền của chị S, do quyền và lợi ích giữa bà P và anh P2 đối lập nhau. Còn nội dung vụ án, bà P đã ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông M và được Ủy ban nhân dân xã C hợp pháp. Do đó, không có căn cứ cho rằng bà P không chuyển nhượng đất cho ông M. Sau khi M nhận chuyển nhượng đất từ bà P, ông M làm hợp đồng tặng cho đất anh T, nhưng bà P lại xây dựng nhà ở trên diện tích đất của anh T, xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của anh T. Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là không phù hợp với quyền sử dụng đất hợp pháp của anh T được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, sửa bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu kháng cáo của anh T không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Anh Nguyễn Văn T khởi kiện cho rằng, diện tích đất 2.833,5m², thửa số 86, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh, là của ông Nguyễn Văn M (Cha anh T) nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị P vào năm 2003, sau đó ông M tặng cho anh T. Do bà P xây dựng căn nhà trên diện tích đất của anh T, nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P di dời căn nhà và tài sản khác gắn liền với đất để giao trả diện tích đất cho anh T quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, theo “Giấy chuyển nhượng đất nuôi trồng thủy sản”, ngày 03/11/2003 ghi đất khu vực ấp Đ, xã Đ, diện tích 13,135m²; “Bảng thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 03/11/2003, ghi diện tích đất 13.135m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D (BL 45, 46, 47). Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/11/2003, ghi diện tích 13.135m², thửa số 86, 165, 166, tờ bản đồ số 3, 7, hợp đồng này lập tại ấp Đ, xã Đ ngày 03/11/1993 thành 04 bản, có giá trị như nhau... (BL 48, 49). Bản tự khai ngày 13/01/2023, ông M khai, nhận chuyển nhượng đất của bà P năm 2003 với tổng diện tích 13.135m², có cả thửa số 86 (BL 63). Như vậy, giữa giấy chuyển nhượng đất nuôi trồng thủy sản, bảng thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với lời khai của ông M, có sự mâu thuẫn với nhau về thửa đất và thời gian thỏa thuận chuyển nhượng đất. Hơn nữa, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P với ông M xác lập ngày 11/11/2003 là thực hiện trước ngày trích lục bản đồ địa chính đo vẽ ghi tên người nhận quyền sử dụng đất Nguyễn Văn M và tên người chuyển quyền sử dụng đất Nguyễn Thị P (Trước ngày 15/12/2003).
[2] Theo trích lục bản đồ địa chính đo vẽ ngày 15/12/2003, ghi tên người nhận quyền sử dụng đất Nguyễn Văn M và tên người chuyển quyền sử dụng đất Nguyễn Thị P, thì vị trí đất thửa số 86, diện tích 2.962m², hướng Đông giáp thửa số 88, hướng Tây giáp thửa số 84, hướng Nam giáp thửa số 85, hướng Bắc giáp thửa số 87 (BL 19). Còn hình thể diện tích đất in trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà P ngày 15/02/2000, có vị trí hướng Đông giáp thửa số 68 và thửa số 87, hướng Tây giáp thửa số 84 và thửa số 164, hướng Nam giáp thửa số 85, hướng Bắc giáp thửa số 87 (BL 177). Hình thể diện tích đất in trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh T ngày 31/12/2021, có vị trí hướng Đông giáp thửa số 87 và thửa số 88, hướng Tây giáp đường bê tông, hướng Nam giáp đường bê tông, hướng Bắc giáp thửa số 877 (BL 179). Như vậy, giữa trích lục bản đồ địa chính so với hình thể diện tích đất được cấp quyền sử dụng có sự khác nhau về vị trí thửa đất. Mặt khác, bà Nguyễn Thị S1 là chủ đất cũ khai, diện tích đất do bà S1 chuyển nhượng cho bà P vào năm 1995. Ông M và anh T không nhận và quản lý, sử dụng diện tích đất thửa số 86. Ông M chỉ nhận, quản lý và sử dụng thửa đất số 165 và số 166 từ bà P.
[3] Tại thời điểm ông M được đứng tên quyền sử dụng đất, thì bà P đã xây dựng căn nhà ở trên diện tích đất 2.561,3m², thửa số 86, nhưng ông M1 không ngăn cản hay tranh chấp với bà P. Năm 2021, ông M và bà H tặng cho anh T diện tích đất thửa số 86 thì đã có căn nhà của bà P tồn tại trên diện tích đất, nên việc tặng cho diện tích đất giữa ông M và bà H với anh T chỉ thực hiện trên giấy tờ, không đo đạc thực tế hiện trạng sử dụng đất. Khi anh T được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh T làm đơn khởi kiện cho rằng bà P xây dựng căn nhà trên diện tích đất của anh T, là không có căn cứ. Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là có căn cứ. Kháng cáo của anh T không có căn cứ chấp nhận.
[4] Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm xét xử hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh T, thửa số 86, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh, là áp dụng không đúng pháp luật. Vì anh T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất từ ông M và bà H. Trường trường hợp này, phải xét xử hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông M và bà H với anh T, mới đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013.
[5] Mặt khác, Tòa án sơ thẩm xét xử không hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông M và bà H với anh T; không hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P với ông M, là thiếu sót và giải quyết chưa hết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, gặp khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn thi hành án dân sự. Nhưng, thiếu sót của Tòa án sơ thẩm không làm thay đổi nội dung giải quyết vụ án nên không cần thiết hủy bản án sơ thẩm mà chỉ sửa bản án sơ thẩm cũng đảm bảo khi bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án.
[6] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn anh T: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của anh T, sửa bản án sơ thẩm, buộc bà P giao trả diện tích đất cho anh T sử dụng, là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ chấp nhận một phần.
[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của anh T không được Tòa án phúc thẩm chấp nhận nên buộc anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Đối với án phí dân sự sơ thẩm, Tòa án sơ thẩm buộc anh T chịu số tiền bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), là không đúng pháp luật. Nhưng không có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân và không liên quan đến kháng cáo của anh T nên Tòa án phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Văn T.
Sửa bản án sơ thẩm số 06/2025/DS-ST, ngày 16-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị P, chị Dương Thị T3 và anh Dương Văn P2 di dời căn nhà và tài sản gắn liền với đất, để giao trả diện tích 2.561,3m², thửa số 86, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P.
Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Văn T, do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh chứng thực số 199, quyển số 02-SCT/HĐ,GD, ngày 06/12/2021, đối với diện tích đất 2.962m² (Diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Nguyễn Văn T là 2.833,5m²), thửa số 86, tờ bản đồ số 07, loại đất Ao, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị P với ông Nguyễn Văn M, do quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh xác nhận ngày 11/11/2003, đối với diện tích đất 2.962m², thửa số 86, tờ bản đồ số 07, loại đất Ao, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Nguyễn Thị P đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục chỉnh lý biên động đất đai, đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đối với diện tích đất 2.561,3m² (Gồm phần A, diện tích 37,2m² và phần D, diện tích 2.524,1m²), thửa số 86, tờ bản đồ số 07, loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Đất có tứ cận và kích thước như sau:
Phần A, diện tích 37,2m²:
- - Hướng Đông giáp thửa số 88, kích thước 12 mét;
- - Hướng Tây giáp thửa số 86, kích thước 12 mét;
- - Hướng Nam giáp thửa số 86, kích thước 2,96 mét;
- - Hướng Bắc giáp thửa số 86, kích thước 3,24 mét.
Phần D, diện tích 2.524,1m²:
- - Hướng Đông giáp thửa số 87 và thửa số 88, kích thước 16,24 mét + 52,96 mét + 4,57 mét + 12,00 mét + 4,7 mét.
- - Hướng Tây giáp Đường bê tông, kích thước 71,95 mét + 8,1 mét;
- - Hướng Nam giáp Đường bê tông, kích thước 13,36 mét + 8,96 mét;
- - Hướng Bắc giáp thửa số 86 và thửa số 87, kích thước 7,45 mét + 22,58 mét.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Dương Văn P2.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu toàn bộ số tiền bằng 9.378.891 đồng (Chín triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm chín mươi mốt đồng), nhưng được trừ vào số tiền anh Nguyễn Văn T đã tạm ứng trước bằng 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Anh Nguyễn Văn T đến Tòa án nhân dân huyện D nhận lại số tiền nộp tạm ứng còn thừa bằng 2.621.109 đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn một trăm linh chín đồng).
- Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm anh Nguyễn Văn T đã nộp bằng 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai thu số 0012312, ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm còn thừa cho anh Nguyễn Văn T bằng 2.950.000 đồng (Hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Buộc anh Dương Văn P2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Dương Văn P2 đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0014278, ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.
Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh Nguyễn Văn T đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0014558, ngày 03/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA. PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 145/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 145/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn T với Nguyễn Thị P
