Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HSST

Ngày 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành; Ông Nguyễn Trung Kiên.
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Thắm- Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 11/9/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: HÀ VĂN D; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/01/1991, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Hà Văn L, sinh năm 1962 và bà Tòng Thị M, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 04 chị, em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Lò Thị T, sinh năm 1993 và 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/6/2024, tạm giam từ ngày 12/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 06/6/2024, Hà Văn D một mình đi bộ từ nhà tại bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine sử dụng. Trên đường đi đến bản P, xã T huyện T, D gặp Lò Văn R (sinh năm 1991; nơi cư trú: bản P, xã T, huyện T). Do có quen biết từ trước và đều nghiện chất ma túy nên D và R rủ nhau cùng đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine sử dụng. Lò Văn R điều khiển xe mô tô của R chở D đi đến bản N, xã P, huyện T. Khi đến nơi, R dừng xe ở dưới đường rồi cùng D đi bộ lên bản Noong Thăng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, tại bản Noong Thăng, D gặp và mua từ một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng (số tiền này của riêng D). Quá trình mua bán, chỉ có D và người đàn ông bán Heroine biết, R đứng cách đó một đoạn và không nghe thấy. Sau khi mua được H, người đàn ông đi đâu không rõ, còn D lấy gói Heroine mở ra, bẻ một ít H đưa cho R để cùng sử dụng. Rót sử dụng Heroine bằng hình thức hít, trong lúc R đang sử dụng Heroine thì D gói số Heroine còn lại bằng mảnh nilon màu hồng rồi gói thêm 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng ra bên ngoài, cất giấu gói Heroine vào ống quần dài bên phải đang mặc, không cho R biết, mục đích: để mang về sử dụng tiếp. Sau đó, D sử dụng Heroine bằng hình thức hít trên mảnh giấy bạc mà R đã đốt dở trước đó. Sau khi sử dụng Heroine, D và R đi bộ về chỗ xe mô tô của R (đang đỗ ở dưới đường) để đi về huyện T thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang hồi 20 giờ 20 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ tại ống quần dài bên phải đang mặc của Hà Văn D 01 gói Heroine được gói bằng 03 lớp nilon, lần lượt có màu trắng, xanh và hồng.

Kết luận giám định số 872 ngày 06/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 703 ngày 09/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn D có khối lượng là 0,11 gam; là ma túy, loại: Heroine”.

Vật chứng: 0,11 gam Heroine thu giữ của Hà Văn D, đã gửi giám định toàn bộ (không hoàn lại mẫu vật). Các vật chứng còn lại 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng hiện đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Hà Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Hà Văn D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu để tiêu hủy.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Hà Văn D xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Vào hồi 20 giờ 20 phút ngày 06/6/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Hà Văn D đang có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,11 gam, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi bị cáo Hà Văn D thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Hà Văn D là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân bị cáo.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hà Văn D được sinh ra trong gia đình lao động, mặc dù có tuổi đời còn trẻ nhưng không tu dưỡng, rèn luyện, chịu khó làm ăn mà lại ăn chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Đối với 0,11 gam Heroine đã gửi làm mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[7]. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, Hà Văn D khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Lò Văn R chở Hà Văn D đi mua Heroine để được cùng sử dụng, Lò Văn R không góp tiền cho Hà Văn D mua Heroine, R không tham gia vào quá trình mua Heroine và không biết việc Hà Văn D cất giấu Heroine mang về. Do vậy Lò Văn R không phạm tội.

Hà Văn D cho Lò Văn R cùng sử dụng trái phép Heroine. Xét thấy đây là hành vi có tính đơn giản của người nghiện có chất ma túy cho người nghiện khác cùng sử dụng cùng. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý Hà Văn D về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn R, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. Về vật chứng: Tịch thu 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu để tiêu hủy.

    Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  4. Về án phí: Bị cáo Hà Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan
  • CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 145/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn D tàng trữ trái phép CMT để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger