Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HSST

Ngày: 24/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Dậu.
  • 2. Ông Đặng Quang Hoạch.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2024/HSST-QĐ ngày 20/5/2024, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Thanh Q (Tên gọi khác: Cù lũ), sinh ngày 27 tháng 11 năm 2005; tại Đồng Tháp; hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

2/ Họ và tên: Lại Văn H1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 10 năm 2005; tại Đắk Nông; hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn L, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • 1/ Ông Võ Thanh D1 (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của anh D1: Ông Võ Thế D2 và bà Huỳnh Anh T (Vắng mặt).

  • 2/ Ông Nguyễn Phạm Phương Anh D3 (Vắng mặt).
  • 3/ Bà Nguyễn Thị X (Vắng mặt).
  • 4/ Ông Bùi Văn H2 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thanh D1 (sinh ngày 08/01/2008, trú tại tổ A, khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai) hiện là học sinh lớp 10 tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện T, tỉnh Đồng Nai. Do muốn kiếm thêm thu nhập dịp Tết Nguyên đán nên D1 nảy sinh ý định bán pháo hoa nổ để kiếm tiền lời. Ngày 25/12/2023, D1 sử dụng tài khoản Mesenger “Võ Thanh D1” đăng tin “Pháo tết ib” để tìm kiếm khách hàng có nhu cầu mua pháo để bán. Đến khoảng 11 giờ ngày 26/12/2023, D1 nhận được tin nhắn trên Mesenger của tài khoản tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn quen biết trên Facebook. N giới thiệu cho D1 một người trên Facebook có tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đang có nhu cầu mua pháo nên D1 đã trao đổi với T1. Quá trình trao đổi qua ứng dụng M (D1 không nhớ tài khoản của T1), hai bên thống nhất D1 sẽ bán cho T1 15 hộp pháo hoa nổ (loại 49 viên/1 hộp) với giá 1.300.000 đồng/hộp và 04 bịch pháo banh với giá 1.000.000 đồng/bịch, tổng cộng số tiền là 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng). D1 và T1 hẹn nhau sẽ thực hiện giao dịch vào lúc 20 giờ ngày 26/12/2023 tại khu vực nhà thờ P1 thuộc ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi tìm được người mua, cùng ngày 26/12/2023, D1 sử dụng tài khoản Facebook Mesenger liên lạc với tài khoản Facebook tên “Pháo Tết Trảng Bom” đặt mua 15 hộp pháo hoa nổ (loại 49 viên/1 hộp) với giá 1.000.000 đồng/hộp và 04 bịch pháo banh với giá 800.000 đồng/bịch, tổng cộng số tiền là 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm ngàn đồng). D1 hẹn tài khoản Facebook “Pháo Tết Trảng Bom” sau khi nhận được tiền bán pháo sẽ trả tiền và đã được tài khoản Facebook “Pháo Tết Trảng Bom” đồng ý. Hai bên hẹn giao pháo tại công viên của dự án Khu dân cư B huyện T. Trong lúc chờ người giao pháo, D1 đến phòng trọ của T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở ấp T, xã Đ, huyện T ăn nhậu cùng Nguyễn Thanh Q, Lại Văn H1 và đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch). Trong lúc ngồi nhậu, D1 rủ Nguyễn Thanh Q và Lại Văn H1 đi bán pháo cùng với D1 để kiếm tiền (T2 và T3 không biết sự việc trên), khi bán xong D1 sẽ trả công cho H1 và Q mỗi người 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) thì H1 và Q đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang ngồi nhậu cùng H1, Q và T3 thì D1 nhận được tin nhắn của Tài khoản “Pháo Tết Trảng Bom” nói đến toà nhà CC6 Khu dân cư B để nhận hàng nên một mình D1 điều khiển xe mô tô màu xanh biển số 60AK-076.71 đến địa chỉ nêu trên. Khi đến nơi D1 thấy có 01 (một) thùng xốp màu vàng để dưới gốc cây như miêu tả của người bán nên D1 chở về nhà tại ấp T, xã Đ, huyện T. Về đến nhà D1 mở thùng xốp ra kiểm tra hàng thì thấy đủ số lượng pháo như đã đặt mua nên D1 đóng thùng xốp lại rồi cất giấu bên hông nhà và tiếp tục đến nhậu cùng với H1, Q và T3. Khoảng 16 giờ cùng ngày thì nhậu xong, H1 mượn xe mô tô 60AK-076.71 của D1 để về nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H1 chạy xe mô tô 60AK-076.71 đến nhà của D1 để đi giao pháo như đã hẹn trước. D1 nói H1 điều khiển xe mô tô đến nhà Q đón Q đi cùng, H1 đồng ý và lấy xe đi đón Q. D1 điện thoại cho đối tượng tên H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt xe Grap đến đón D1 đi giao hàng (D1 không nói với H3 là giao hàng gì) nhưng H3 nói đã có khách rồi nên nhắn cho D1 số điện thoại của Nguyễn Phạm Phương Anh D3 (sinh năm 1998, trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) để D3 đặt xe (Anh D3 cũng là tài xế lái xe Grap). D3 gọi điện hẹn Nguyễn Phạm Phương A D3 đến đón D3 lúc 20 giờ 30 phút tại đường ray xe lửa gần nhà D3 thuộc ấp T, xã Đ, huyện T. Khi đến nơi, Nguyễn Phạm Phương A D3 điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Vios màu trắng biển số 60K-305.49, trên xe chở theo bạn gái của D3 tên Nguyễn Thị X (sinh năm 2002, trú tại thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình) ngồi ở băng ghế trước. D3 nói Nguyễn Phạm Phương Anh D3 đậu xe ở đường ray gần trước nhà chờ D3, sau đó D3 lấy xe mô tô 60AK-076.71 chở thùng xốp đựng pháo từ bên hông nhà ra chỗ xe 60K-305.49 đang đậu. Tại đây, D3 và Q khiêng thùng xốp đựng pháo từ trên xe mô tô xuống và để vào cốp phía sau của xe ô tô, còn H1 thì đi bộ từ nhà ra sau. Sau khi xếp thùng xốp lên xe, Q và H1 lên xe ô tô ngồi băng ghế phía sau còn D3 điều khiển xe mô tô 60AK-076.71 đi phía trước dẫn đường. Khi đến điểm hẹn tại nhà thờ P1, D3 gọi điện thoại qua M1 cho T1 để hỏi vị trí giao nhận hàng thì T1 chỉ đường đi qua nhà thờ P1 khoảng 200m và rẽ phải vào đường đất để giao pháo. Khi cách điểm hẹn giao pháo khoảng 100m thì D3 nói Nguyễn Phạm Phương A D3 dừng xe ở đầu đường đất, D3 và Q khiêng thùng xốp đựng pháo đi bộ vào điểm hẹn, còn H1 đứng ở đầu đường canh xe mô tô cho D3. Khi vừa vào đến điểm giao nhận pháo thì bị Công an xã B đang đi tuần tra phát hiện và bắt quả tang. Đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 15 (mười lăm) khối hộp hình chữ nhật kích thước 17,5 x 17,5 x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc; 04 (bốn) bịch ni lông kích thước 24 x 16cm bên trong có chứa các quả cầu hình tròn có ngòi, nhiều màu sắc khác nhau; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0364451522; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0372161580; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 13, màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0797625725; 01 (một) xe ô tô hiệu Toyota Vios, màu trắng, biển số 60K-305.49; 01 xe mô tô biển số 60AK-076.71 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Đình B. Cùng ngày, Công an xã B đã chuyển các đối tượng cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Võ Thanh D1 và thu giữ 01 (túi) bóng dán kín, bên trong đựng các khối hình tròn nhiều màu sắc khác nhau tại vị trí phía trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của Võ Thanh D1. D1 khai nhận các khối hình tròn nhiều màu sắc khác nhau trên là pháo banh được D1 mua từ tài khoản Facebook tên “Pháo Tết Trảng Bom” vào khoảng đầu tháng 12/2023 với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) về để sử dụng dịp Tết nguyên đán và bán lại cho khách có nhu cầu mua nhưng chưa bán được.

Tại Bản kết luận giám định số: 514/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C kết luận:

“+ 15 (mười lăm) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17,5cm x 17,5cm x 10cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc (trong đó: 10 khối có in chữ “AY04-23002 EAGLE 49”, 04 khối có in chữ “AY04-23-001 NAGA 49”, 01 khối có in chữ “T4049”), bên trong mỗi khối có chứa 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 27,2 kg.

+ 04 (bốn) túi ny lông chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Tổng khối lượng là 1,7kg.

+ 01 (một) túi ny lông chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Tổng khối lượng là 0,4kg”.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh Q và Lại Văn H1, về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự để điều tra. Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp được gián kín bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Phân viện khoa học hình sự Bộ C bên trong có chứa pháo nổ sau giám định.

Đối với xe mô tô biển số 60AK-076.71 đã qua sử dụng. Kết quả xác minh xác định xe mô tô trên được ông Phạm Đình B (sinh năm 1976, trú tại tổ A, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai) mua và đăng ký sử dụng từ ngày 25/8/2020. Đến tháng 06/2023 do không có nhu cầu tiếp tục sử dụng nên ông B đã bán chiếc xe trên cho chị Huỳnh Anh T (sinh năm 1987, trú tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai), chị T là mẹ ruột của Võ Thanh D1. Sau đó chị T đã cho, tặng Võ Thanh D1 chiếc xe trên để sử dụng từ tháng 06/2023 đến khi bị cơ quan Công an tạm giữ vào ngày 26/12/2023. Trong quá trình thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm như trên, Võ Thanh D1 và các đối tượng đã sử dụng xe mô tô biển số 60AK-076.71 để vận chuyển pháo do đó đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công.

Đối với 01 (một) điện thoại di động iphone 6 plus, màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0372161580, tình trạng máy đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0364451522, tình trạng máy đã qua sử dụng là tài sản của Võ Thanh D1 và Nguyễn Thanh Q; D1 và Q sử dụng để liên lạc mua, bán pháo nổ nên đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công.

Đối với 01 (một) xe ô tô Toyota Vios, màu trắng, biển số 60K- 305.49, tình trạng xe đã qua sử dụng. Kết quả xác minh xác định xe ô tô trên thuộc sở hữu của bà Phạm Thị Kim P (sinh năm 1978, trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) là mẹ ruột của Nguyễn Phạm Phương Anh D3. Bà P giao chiếc xe trên cho Nguyễn Phạm Phương Anh D3 để chạy dịch vụ. Đối với việc vận chuyển các đối tượng Võ Thanh D1, Nguyễn Thanh Q và Lại Văn H1 cùng pháo nổ xảy ra vào ngày 26/12/2023 như trên, bà P và Nguyễn Phạm Phương A D1 không biết hàng hóa vận chuyển là gì nên không có hành vi phạm tội. Ngày 11/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ban hành Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại 01 (một) chiếc xe ô tô Toyota Vios, màu trắng, biển số 60K- 305.49 cho Phạm Thị Kim P theo quy định.

Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 13, màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0797625725. Kết quả xác minh xác định điện thoại trên thuộc sở hữu của Nguyễn Phạm Phương Anh D3, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 11/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ban hành Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại chiến điện thoại trên cho Nguyễn Phạm Phương Anh D3 theo quy định.

Tại Cáo trạng số: 138/CT-VKS-TB ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Lại Văn H1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án từ 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) đến 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho cá bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 26/12/2023 tại ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thanh QLại Văn H1 đã có hành vi bán 27,2 kg pháo nổ (pháo hoa nổ) và 1,7kg pháo nổ cho một người tên T1 (không rõ họ, địa chỉ) thì bị Công an xã B bắt quả tang. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Lại Văn H1 đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn nên cần áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 đối với các bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp được niêm phong sau giám định, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C, chữ ký của Đỗ Minh Q1, Chu Văn T4; 01 sim có số seri: 89840 48000 91107 1646; 01 sim có số seri: 89840 48000 92703 0957.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển số 60AK-076.71 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không kiểm tra được số khung, số máy của xe kèm giấy chứng nhận đăng ký số: 094199 mang tên Phạm Đình B; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus màu trắng đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, trên khay sim có số seri: 353337073601980; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không kiểm tra được tình trạng, kỹ thuật bên trong điện thoại, trên khay sim có số seri: 353055090345601 là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Lại Văn H1 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

- Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Thanh Q 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  • + Bị cáo Lại Văn H1 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp được niêm phong sau giám định, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C, chữ ký của Đỗ Minh Q1, Chu Văn T4; 01 sim có số seri: 89840 48000 91107 1646; 01 sim có số seri: 89840 48000 92703 0957.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển số 60AK-076.71 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không kiểm tra được số khung, số máy của xe kèm giấy chứng nhận đăng ký số: 094199 mang tên Phạm Đình B; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus màu trắng đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, trên khay sim có số seri: 353337073601980; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không kiểm tra được tình trạng, kỹ thuật bên trong điện thoại, trên khay sim có số seri: 353055090345601 là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

(Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Lại Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - CC.THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 145/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Nguyễn thanh Quan, Lại Văn Hưng - D190 K1- T02-2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger