TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HSST
Ngày: 12 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Vũ Anh Kiệt
2. Bà Phan Thị Bích
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN NGỌC N; Tên gọi khác: N; Sinh năm: 1995, tại: Bình Thuận;
Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 15/12/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 119/2020/HSST. Đến ngày 14/01/2023, chấp hành xong án phạt tù (theo Giấy chứng nhận số 73/GCN của Trại giam H1); Nhân thân: Ngày 31/7/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (Quyết định số: 07/QĐ-TA). Đến ngày 25/9/2018 thì chấp hành xong (theo Giấy chứng nhận về việc chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 475/GCN-CSĐTNMT ngày 23/8/2018); Con ông: Nguyễn Toàn T, sinh năm: 1972 và bà: Phạm Thị D, sinh năm: 1970 (chết); Vợ, con: Chưa có; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/9/2024; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 34 ngày 08/9/2024, tại khách sạn N1, số B đường N, thuộc khu phố C, phường T, thị xã L. Tổ công tác Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma tuý công an thị xã L bắt quả tang bị cáo Nguyễn Ngọc N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ trong túi quần phía sau, bên trái của N có 01 (một) bịch nilon màu trong suốt, một đầu có nhíp kéo màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (4 x 7,3)cm, bên trong bịch nilon chứa 01 (một) bịch nilon màu trong suốt, được hàn kín, kích thước khoảng (3,5 x 4)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu: Mẫu 1) và 01 (một) bịch nilon màu trong suốt, được hàn kín, một đầu có nhíp kéo màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (3,5 x 4,2)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu: Mẫu 2); Thu giữ trên tay trái của N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 356083091011870, gắn sim số: 0828518881. Tổ Công tác Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma tuý công an thị xã L tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc N khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, nên khoảng 18 giờ 30 ngày 08/9/2024, bị cáo N đến khu vực đồi H thuộc khu phố H, phường T, thị xã L gặp và mua của nam thanh niên tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 (hai) bịch ma tuý đá, với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo N cất giấu ma tuý vào trong túi quần phía sau bên trái, rồi đi đến khách sạn N1 thuê phòng để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 1137/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu 1 gửi giám định có khối lượng 3,4992 gam là Methamphetamine;
- Mẫu 2 gửi giám định có khối lượng 2,4369 gam là Methamphetamine
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bịch nilon trong suốt, một đầu có nhíp kéo màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (4 x 7,3)cm; 01 (một) bịch nilon trong suốt, được hàn kín, kích thước khoảng (3,5 x 4)cm; 01 (một) bịch nilon trong suốt, được hàn kín, một đầu có nhíp kéo màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (3,5 x 4,2)cm; 3,4225 gam mẫu M1 và 2,3637 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1137/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của phòng K, Công an tỉnh B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 356083091011870, gắn sim số: 0828518881 thu giữ của Nguyễn Ngọc N, hiện Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
Tại bản cáo trạng số: 151/CT-VKSLG-HS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc N và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- - Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N, mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.
- * Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong, còn nguyên vẹn số 1137/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IM356083091011870, gắn sim số 0828518881 của bị cáo Nguyễn Ngọc N.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc N khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Bị cáo Nguyễn Ngọc N không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Ngọc N: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc N thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 19 giờ 34 ngày 08/9/2024, tại khách sạn N1, địa chỉ số B đường N, thuộc khu phố C, phường T, thị xã L. Bị cáo Nguyễn Ngọc N có hành vi tàng trữ trái phép 5,9361 gam Methamphetamine, thì bị Đội Cảnh sát kinh tế - ma túy Công an thị xã L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Bị cáo N khai nhận toàn bộ số ma túy này là của bị cáo, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 5,9361 gam; là Methamphetamine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý, đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 151/CT-VKSLG-HS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc N,
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (Quyết định số: 07/QĐ-TA ngày 31/7/2017) và bị xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số: 119/2020/HSST ngày 15/12/2020), nên bị cáo nhận thức rõ ma tuý là chất gây nghiện, là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, tìm mua ma tuý, cất giấu trong người, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc N là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét, ngày 15/12/2020, bị cáo Nguyễn Ngọc N bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (tại Bản án số 119/2020/HSST). Đến ngày 14/01/2023, bị cáo chấp hành xong án phạt tù (theo Giấy chứng nhận số 73/GCN của Trại giam H1). Mặc dù chưa được xóa án tích theo luật định, nhưng vào ngày 08/9/2024, bị cáo tiếp tục phạm tội mới do cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp "Tái phạm". Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài hình phạt chính bị cáo Nguyễn Ngọc N còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bịch nilon trong suốt, một đầu có nhíp kéo màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (4 x 7,3)cm; 01 (một) bịch nilon trong suốt, được hàn kín, kích thước khoảng (3,5 x 4)cm; 01 (một) bịch nilon trong suốt, được hàn kín, một đầu có nhíp kéo màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (3,5 x 4,2)cm; 3,4225 gam mẫu M1 và 2,3637 gam mẫu M2 còn lại sau giám định; Được niêm phong trong phong bì số: 1137/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của phòng K - Công an tỉnh B. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 356083091011870, gắn sim số: 0828518881 thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc N. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, vào ngày 08/9/2024, bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc với đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma tuý; có liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma tuý, bị cáo Nguyễn Ngọc N khai mua của nam thanh niên tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực đồi H, thuộc khu phố H, phường T, thị xã L. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng trên, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Ngọc N, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
[2] Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Ngọc N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/9/2024.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong, còn nguyên vẹn số 1137/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B;
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 356083091011870, gắn sim số: 0828518881.
Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024, giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[4] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Ngọc N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Từ Quốc Thái Bình |
Bản án số 145/2024/HSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 145/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Nam phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
