Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Liễu – Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Tân Phú.
  2. Ông Nguyễn Hữu Phúc – Hội nông dân huyện Tân Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng nai xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H - sinh năm 2001, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm An N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1 (Bỏ đi từ nhỏ); vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T cho đến nay (Có mặt).

Bị hại:

  1. Cháu Bùi Thị Thu H2 - sinh ngày 14/02/2010; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật của cháu H2: Ông Bùi Văn T - sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1979 là cha mẹ của cháu H2; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

Người đại diện hợp pháp của ông Bùi Văn T2: Bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai là người đại diện theo ủy quyền của ông T theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024 (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu H2: Bà Bùi Thị H3, trợ giúp viên pháp lý công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn H, sinh năm 2001 có quan hệ tình cảm với Bùi Thị Thu H2, sinh ngày 14/02/2010. Từ đầu tháng 4 năm 2024 đến ngày 09/5/2024 H đã 04 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu H2, cụ thể như sau:

Buổi tối vào một ngày đầu tháng 4 năm 2024 Nguyễn Văn H với ý định quan hệ tình dục với cháu Bùi Thị Thu H2, H mua bao cao su rồi đến chở H2 đến nhà ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau khi ăn tối xong, H và H2 thực hiện hành vi giao cấu với nhau 1 lần. Ngoài ra, đến ngày 09/5/2024 Nguyễn Văn H tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Thị Thu H2 03 lần tại nhà ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, bà Nguyễn Thị T1 (mẹ ruột cháu Bùi Thị Thu H2) đến trình báo đến cơ quan Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T bị cáo đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình (bút lục: 65-66, 71-72, 80-81).

Hậu quả: Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 0430/KLTDTE-TTPYĐN ngày 16/5/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận về Bùi Thị Thu H2: “Màng trinh: Hình chóp loe, đường kính lỗ trinh 1,5 cm. Màng trinh rách không hoàn toàn vị trí 04 giờ và 08 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.” (Bút lục số 36 -37).

Tại Cáo trạng số 144/CT-VKSÐQ ngày 30 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù giam.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Tòa tuyên: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm bồi thường cho cháu Bùi Thị Thu H2 số tiền 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo, thống nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của cháu H2 yêu cầu bị cáo H bồi thường do danh dự, nhân phẩm, ủy tín, tổn thất tinh thần và chi phí đi lại với số tiền 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu H2 thống nhất với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Riêng về phần trách nhiệm dân sự thì người bảo vệ quyền và lợi ích của cháu H2 đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất tinh thần của cháu H2 bị xâm phạm và chi phí bỏ ra để giám định, chi phí đi lại trong quá trình điều tra với tổng số tiền là 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa: Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 50.000.000 đồng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là cháu Bùi Thị Thu H2 nên ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H - sinh năm 2001 có quan hệ tình cảm với Bùi Thị Thu H2, sinh ngày 14/02/2010. Từ đầu tháng 4 năm 2024 đến ngày 09/5/2024 H đã 04 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu H2.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến danh dự nhân phẩm, sức khoẻ, tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của cháu H2 làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống đạo đức, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an của xã hội. Vào thời điểm phạm tội bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[3] Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận Cáo trạng số 144/CT-VKSÐQ ngày 30 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2, Điều 145 của Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, tội phạm, hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự như: Có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, bị cáo mồ côi mẹ từ nhỏ, cha bị cáo mất sớm, bị cáo ở với bà nội là người lớn tuổi, nên bị cáo thiếu thốn tình thương và sự giáo dục từ cha mẹ. Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của cháu H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất tinh thần, chi phí bỏ ra để giám định, chi phí đi lại trong quá trình điều tra với tổng số tiền là 50.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự.

[7] Về phần đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu H2 là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác.

[11] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;

Căn cứ vào điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024.

Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2017; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 592 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất tinh thần cho cháu Bùi Thị Thu H2 và chi phí bỏ ra để giám định, chi phí đi lại trong quá trình điều tra tổng số tiền 50.000.000 đồng.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và phải chịu 2.500.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tuấn

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 145/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng nai xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger