Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-ST

Ngày: 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thành Viên.
  2. Bà Châu Thị Lệ .

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Quách Diệp Nguyệt T - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức P, sinh năm: 2005, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số I đường H, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị Thanh H1; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 25/02/2024; (Có mặt).

Bị hại: Ông Phạm Bình P1, sinh năm 2003; địa chỉ: C Lô N Chung cư K, D, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Phước Tùng V, sinh năm 1989; địa chỉ: 2 Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 20/02/2024, Nguyễn Đức P vào chơi game tại tiệm N địa chỉ số C đường P, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và ngủ tại bàn chơi game. Đến 09 giờ sáng ngày 21/02/2024 Phú thức dậy và đi ra trước tiệm N để hút thuốc lá, khi đi ngang máy chơi game số 29 của ông Phạm Bình P1 thì P nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB để trên bàn và 01 chiếc bóp để trong ngăn kéo của túi ba lô nhưng bị trồi lên và không được kéo dây kéo lại lúc này ông P1 đang dựa lưng vào ghế ngủ. Sau khi P hút thuốc xong thì vào chơi game tiếp khoảng 30 phút thì nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại và tài sản trong bóp của ông P1. Phú đi lại chỗ ông P1 thì thấy ông P1 vẫn nằm ngủ nên P lén lút lấy cái bóp và mở ra xem thì thấy bên trong có 300.000 đồng, P lấy tiền rồi bỏ cái bóp lại vị trí cũ và tiếp tục lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng rời đi. Khoảng 11 giờ ngày 21/02/2024, ông P1 ngủ dậy thì phát hiện bị mất trộm tài sản nên có nhờ quản lý tiệm net cho xem lại camera, kiểm tra camera thì thấy vào khoảng 10 giờ ngày 21/02/2024 P mặc áo thun ngắn tay màu xanh sọc vàng, quần tây ngắn màu đen tiến lại gần chỗ ông P1 đang nằm ngủ và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. đến khoảng 09 giờ 20 phút ngày 24/2/2024, khi P đang đi đến trước địa chỉ 3.3 chung cư K, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị ông P1 vô tình đi ngang phát hiện giống với đối tượng đã trộm tài sản của mình nên giữ lại và báo Công an P2, quận G đến đưa P về làm việc. Công an P2, quận G tiếp nhận, trích xuất camera nơi xảy ra trộm cắp tài sản, lập hồ sơ ban đầu và giao lại cho Công an Phường 05, quận G tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm. Công an P3, quận G đã chuyển vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để thụ lý.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Sau khi lấy trộm được tài sản của ông P1, P mang 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB đi bán tại tiệm bán điện thoại địa chỉ số A đường N, Phường D, quận G do ông Bùi Phước Tùng V làm chủ. P đưa cho ông V xem chiếc điện thoại Iphone XS rồi hỏi xem có thể sửa I được không thì ông V trả lời là không, đồng thời, ông V hỏi P nguồn gốc chiếc điện thoại trên thì P trả lời là điện thoại của anh trai, do bị hư icould nên mang đi sửa. Sau đó, P giả vờ ra ngoài, 05 phút sau P quay lại và hỏi ông V thu mua xác chiếc điện thoại Iphone XS với giá bao nhiêu, ông V bảo giá mua xác điện thoại trên là 500.000 đồng thì P đồng ý và bán cho ông V. Sau khi mua chiếc điện thoại trên thì ông V đăng bán xác điện thoại trên trang Chợ Tốt thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên lai lịch) đến cửa hàng của ông V hỏi thu mua xác điện thoại nên đã bán cho người đàn ông đó với giá 650.000 đồng. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận G kết luận: chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Iphone XS 64GB màu trắng có giá trị 3.700.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB và số tiền 300.000 đồng là vật chứng vụ án không thu hồi được.

2

  • 01 áo ngắn tay màu xanh sọc vàng, 01 quần tây thu giữ của P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị Nguyễn Đức P trộm cắp gồm 01 điện thoại Iphone XS 64GB màu trắng và 300.000 đồng. Ông Phạm Bình P1 không có yêu cầu Nguyễn Đức P bồi thường đối với tài sản bị chiếm đoạt, đồng ý cho luôn bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Đức P.

Đối với ông Bùi Phước Tùng V khi mua điện thoại của bị cáo P không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại bản cáo trạng số 144/CT-VKS-QGV, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P từ 9 tháng đến 12 tháng tù.
  • Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo ngắn tay màu xanh sọc vàng, 01 quần tây thu giữ của P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

3

tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phiên tòa: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày lời khai và yêu cầu, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Đức P đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2024, tại địa chỉ: Tiệm net địa chỉ số C đường P, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại ông Phạm Bình P1 gồm: 01 điện thoại Iphone XS 64GB màu trắng trị giá 3.700.000 đồng và số tiền 300.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 144/CT-VKS-QGV, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã

4

hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa ông Phạm Bình P1 vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện ông Phạm Bình P1 do thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên không có yêu cầu bồi thường đối với tài sản bị chiếm đoạt, đồng ý cho luôn bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là yêu cầu và sự thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật nên ghi nhận.

Đối với số tiền bị cáo thu lợi được do bán điện thoại chiếm đoạt của bị hại là 500.000 đồng và số tiền 300.000 đồng, tổng cộng 800.000 đồng, do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và đồng ý cho luôn bị cáo nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo nộp lại số tiền này.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo ngắn tay màu xanh sọc vàng, 01 quần tây thu giữ của P mặc khi thực hiện hành vi phạn tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Vấn đề khác: Đối với ông Bùi Phước Tùng V khi mua điện thoại của bị cáo P không biết là tài sản do phạm tội mà có, lời khai ông V phù hợp với lời khai của bị cáo nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông V là có cơ sở.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

5

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/02/2024.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo ngắn tay màu xanh sọc vàng, 01 quần tây ngắn màu đen, tình trạng: đã qua sử dụng.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 102/PNK ngày 09/5/2024 của Công an quận G)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Công an Q. Gò Vấp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Châu Ly

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 145/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức P về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger