Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-PT

Ngày: 26 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm

Bà Hoàng Thị Nguyệt

Thư ký phiên toà: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 190/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn K cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Trần Văn K, sinh ngày 05/9/1993 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và bà Phạm Thị H (đã chết); Có vợ là Đỗ Thị L1 và 01 con sinh năm 2019; Tiền án Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
  2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/7/1990 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu D, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị V; Có vợ là Lê Thị Đ (đã ly hôn) và

02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Có 01 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị.

- Bị hại: Công ty TNHH H7

Địa chỉ: Số H, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H1 - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn D - Chức vụ: Trưởng phòng Pháp chế (Giấy uỷ quyền ngày 24/8/2023), vắng mặt.

- Người làm chứng: Đều vắng mặt.

  1. Anh Bùi Văn H2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Bùi Văn H3, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Chị Nguyễn Mai H4, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Anh Thiều Văn S, sinh năm 1991; Nơi ĐKTT: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Hiện cư trú tại: Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
  6. Ông Nguyễn Hồng V1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số B T, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
  7. Anh Đặng Đình T2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T và Trần Văn K là nhân viên lái xe theo hợp đồng của công ty TNHH H7, có trụ sở tại số H, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, với nhiệm vụ lái xe vận chuyển hàng hóa dưới sự điều động của kế toán công ty, được hưởng lương hàng tháng và các chế độ theo hợp đồng, thời hạn hợp đồng từ ngày 02/01/2023 đến ngày 02/01/2025. Ngày 21/8/2023, Nguyễn Văn T,

Nguyễn Văn H5 và và Trần Văn K nhận Lệnh điều động của kế toán ca Nguyễn Thị L2, Nguyễn Mai H4 và Bùi Ngọc H6 đến công ty nhận xe, thực hiện nhiệm vụ điều khiển các xe ô tô tải có biển kiểm soát lần lượt là 36C-033.12; 36C-191.70 và 36C-191.60 từ trụ sở công ty H7 đến mỏ đá vôi của Công ty tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để vận chuyển đất, đá từ mỏ đá ra khu vực mặt bằng đang san lấp thi công công trình trung tâm thương mại của công ty tại thôn Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Thế, H5 và K nhận lệnh và điều khiển xe ô tô được giao đến mỏ đá, nhận đất, đá từ anh Bùi Văn H3 xúc lên xe, sau đó ký nhận vào sổ xuất kho nội bộ của Công ty và vận chuyển đến bãi tập kết theo Lệnh. Sau khi chở xong chuyến thứ nhất, quan sát thấy tại bãi tập kết của Công ty không có ai kiểm tra và nhận vật liệu nên trên đường quay xe chở lại mỏ đá, K nảy sinh ý định chiếm đoạt vật liệu là đất đá của Công ty mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định trên, K gọi điện thoại cho T nói kiếm mối để bán, T hiểu ý và trả lời có anh H2 mua nên K bảo T liên hệ với anh H2 để bán. T gọi điện thoại cho anh Bùi Văn H2 sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã H, huyện H, được anh H2 đồng ý và thỏa thuận thống nhất giá mỗi xe là 250.000đ. Sau đó, T thông báo lại với K và rủ thêm H5 cùng tham gia. K, T và H5 điều khiển xe ô tô đến mỏ đá H của Công ty H7, nhận đất, đá, ký nhận vào sổ nội bộ rồi điều khiển xe đến khu vực đường dân sinh, thuộc thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đổ vào bãi tập kết theo yêu cầu của anh H2. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi mỗi người chở được 3 xe bán đất, đá cho anh H2 thì T đi tìm anh H2 để thanh toán tiền, còn H5 và K quay xe về mỏ đá mỗi người chở được 01 xe đất đá đến bãi tập kết của Công ty thì quay về công ty giao xe. Sau khi thanh toán với anh H2 tổng cộng 09 xe đất đá được 2.200.000đ, T gọi điện thoại hẹn H5 và K đến quán nước gần khu vực cầu đi bộ vượt đường sắt tại thị xã B, chia nhau mỗi người 700.000đ, trả tiền nước hết 50.000đ, còn 50.000đ T chia thêm cho H5.

Sáng ngày 22/8/2023, Nguyễn Văn H5 và Nguyễn Văn T tiếp tục nhận được lệnh điều động đến mỏ đá của công ty H7 tại xã H để vận chuyển đất, đá ra khu vực mặt bằng san lấp của công ty. H5 gọi cho T để thống nhất về việc tiếp tục bán đất, đá cho anh H2. Trong buổi sáng ngày 22/8/2023 T và H5 mỗi người chở được một chuyến đất, đá bán cho anh H2, nhưng chưa thanh toán tiền thì bị phát hiện.

Tại Bản kết luận giám định GĐ/17-2023, ngày 24/10/2023 của Trung tâm phân tích và kiểm định địa chất - Cục Đ1 kết luận: Mẫu vật giám định là đất, đá trong vụ việc nêu trên là khoáng sản và là loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.

Ngày 07/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 72m³ (bảy hai mét khối) vật liệu là khoáng sản xây dựng thông thường trong vụ việc nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐG, ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa kết luận: 72m³ đất, đá là khoáng sản xây dựng thông thường trên có giá trị là: 6.098.400₫ (sáu triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm đồng).

Vật chứng của vụ án, đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:

Khám xét chỗ ở của Trần Văn K, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H5 không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Số vật chứng đã tạm giữ là 72m³ khoáng sản của Công ty TNHH H7 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện H trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.

Về dân sự: Quá trình điều tra, Trần Văn K, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H5 đã trả lại số tiền 2.200.000đ cho anh Bùi Văn H2, anh H2 không có yêu cầu gì. K, T và H5 cũng đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH H7 tổng số tiền 6.098.000đ, bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K, T và H5.

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 353; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T).

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 353; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Văn H5).

Căn cứ vào: Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H5 phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt: 1. Bị cáo Trần Văn K 27 (hai bảy) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

2. Bị cáo Nguyễn Văn T 27 (hai bảy) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

3. Bị cáo Nguyễn Văn H5 24 (hai bốn) tháng tù, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/5 và 04/6/2024, các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn K kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo K và Thế giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn K kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Vào các ngày 21, 22/8/2023, tại mỏ đá thuộc xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Trần Văn K, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H5 là lái xe hợp đồng của công ty TNHH H7 đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, chiếm đoạt của Công ty Gm³ đất đá có giá trị là 6.098.400đ (sáu triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm đồng) mang đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian trong hai ngày liên tiếp 21 và 22/8/2023 nên phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H5 phạm tội "Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 BLHS là đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung. Khi quyết định hình phạt án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo đó là tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K 27 tháng tù, bị cáo T 27 tháng tù là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm: Các bị cáo K và T đều có tình tiết giảm nhẹ TNHS mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đó là: Bị cáo K ủng hộ ngày vì người nghèo 500.000 đồng cho Ủy ban mặt trận tổ quốc xã H, huyện H; ông ngoại bị cáo K là ông Phạm Văn S1 là người có công với cách mạng, được tặng Huân chương chiến sỹ hạng ba; mẹ bị cáo K là bà Phạm Thị H được tặng Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến. Bố bị cáo T tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975; bản thân bị cáo T đã ly hôn vợ đang trực tiếp nuôi một con đang còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS; nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Do đó, thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt tù cho các bị cáo K và T được hưởng án treo.

[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[5].Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T được chấp nhận nên không phải chịu án phí HSPT. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của BLTTHS. Điểm h khoản 2 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T. Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Giữ nguyên hình phạt tù, cho các bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 353; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự (đối với các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T).

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T phạm tội “Tham ô tài sản".

Xử phạt: 1. Bị cáo Trần Văn K 27 (hai bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

2. Bị cáo Nguyễn Văn T 27 (hai bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn K cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
  • - TAND, VKS, THA huyện Hà Trung;
  • - Bị cáo;
  • - Bộ phận HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự - tham ô tài sản

  • Số bản án: 145/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tham ô tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger