TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2023/HS-ST Ngày 26 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Tân
Ông Nguyễn Gia Khải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/11/1992, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 16/8/2023 đến ngày 22/8/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt).
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1966
- Ông Vũ Mạnh H, sinh năm 1956
Địa chỉ: Thôn X, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Đều vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 16/8/2023, tại khu vực đường Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tổ Công tác của Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B5-62abc có biểu hiện liên quan đến ma Ty nên đã yêu cầu T về trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q để làm việc. Tại đây, Tổ Công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai nhận đó là gói Heroine T vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ Công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý phương tiện và niêm phong vật chứng.
Kiểm tra chiếc xe mô tô không phát hiện, thu giữ gì. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 1236/KL-KTHS(MT), ngày 21/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin (Heroine),có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,1816 gam (không phẩy một nghìn tám trăm mười sáu gam).
Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.”
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/8/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B5-62abc của bố bị cáo đi từ nhà đến khu vực thôn A, xã A, huyện Q mua 01 gói Heroine của một người đàn ông khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng rồi cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về nhà. Khi đi được một đoạn thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 130/CT-VKSQP ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập cùng ngày 16/8/2023; biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 16/8/2023; phiếu xét nghiệm test nhanh chất gây nghiện của Trung tâm y tế huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình lập ngày 16/8/2023; lời khai của những người chứng kiến; Kết luận giám định số 1236/KL-KTHS, ngày 21/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 16/8/2023, tại khu vực Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1816 gam (không phẩy một nghìn tám trăm mười sáu gam), mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma Ty mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma Ty thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Như vậy việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù động cơ phạm tội xuất phát từ việc nghiện chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nhưng tệ nạn ma túy là mối quan tâm nhức nhối của toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo trung thực toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma tuý nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17B5-62abc bị cáo dùng để đi mua ma túy, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1 (bố đẻ bị cáo). Ông T1 không biết việc bị cáo lấy chiếc xe trên để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Ông T1 và ra quyết định trả lại xe cho Ông T1 là đúng quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (16 tháng 8 năm 2023).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1465 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi lăm gam) heroine mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Văn T trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1236 KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 15 Bình ngày 16/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phượng |
Bản án số 145/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 145/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
