|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 145/2020/HSST Ngày: 15-12-2020 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, Ông Đào Xuân Nhi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đ, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2020/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh D, tên gọi khác: Tèo nuôi, sinh năm 1988 tại Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc M, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Trần Thị Á, sinh năm 1964 (còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 27/4/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 194, Điểm p Khoản 1 Điều 46, Điều 33, 45 Bộ luật Hình sự xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy” (bản án số 23/2017/HSPT), ngày 14/11/2019, chấp hành xong hình phạt tù; Về nhân thân: Ngày 18/01/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 138, Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46, Điều 69, 74, 53 và Điều 60 Bộ luật Hình sự xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 05/2006/HSPT); Ngày 06/11/2014, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đồng Xoài khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 29/11/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đồng Xoài ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27 tháng 5 năm 2020 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh D: Ông Bùi Gia N - Luật sư Văn phòng luật sư Bùi Gia N, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Người làm chứng:
- Anh Phan Hoàng Hải Đ, sinh năm 1995; Trú tại: Phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Anh Ngô Anh T, sinh năm 1985; Trú tại: Khu phố 04, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin vắng mặt)
- Chị Trương Thụy Thanh T, sinh năm 1987; trú tại: Số 558 quốc lộ 14, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 24/5/2020, Nguyễn Minh D bắt xe khách đến khu vực quận B, thành phố Hồ Chí Minh, để mua ma túy về cất giấu sử dụng dần. Tại đây, D nhờ một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ lai lịch) mua 20.000.000 đồng ma túy đá thì người đàn ông đồng ý và điều khiển xe mô tô chở D đến khu vực quận 4, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch). D đưa cho người đàn ông này số tiền 20.000.000 đồng và nhận 01 bọc nylon miệng kéo dính bên trong chứa ma túy đá. Sau đó, D đón xe khách về nhà của Trương Thụy Thanh T tại khu phố Phú Lộc, phường Tân Phú, thành phố Đ, T và D có mối quan hệ tình cảm, bị can thường xuyên ở lại nhà của T. Tại đây, D lấy bọc ma túy mua được trích một ít vào túi nylon nhỏ hơn. Số ma túy còn lại D để vào 01 chiếc hộp nhựa màu vàng rồi để trong ngăn mát của tủ lạnh. Khoảng 9 giờ ngày 25/5/2020, D lấy bọc ma túy nhỏ ra trích một ít để sử dụng, số còn lại D để vào hộp nhựa màu vàng để trong ngăn mát tủ lạnh. Khoảng 19 giờ ngày 26/5/2020, Phan Hoàng Hải Đ và Ngô Anh T đến nhà của T chơi với D. Tại đây, D rủ Đ và T sử dụng ma túy thì cả hai đồng ý. D lấy túi ma túy nhỏ mang qua căn phòng cuối, trích một ít ma túy ra sử dụng cùng với Đ và T, số ma túy còn lại D giấu vào chiếc hộp gỗ màu đen để trên bàn. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T và Đ ở lại chơi cùng với D. Đến Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an thành phố Đ kết hợp với Công an phường T kiểm tra hành chính, phát hiện trên bàn trong phòng D ngồi có 01 chiếc hộp gỗ màu đen bên trong có 01 bọc nylon có kích thước (7 x 4)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (D khai nhận là ma túy đá) nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục từ số 18-21).
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D thu giữ trong ngăn mát tủ lạnh 01 hộp nhựa màu vàng bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính kích thước (16 x 10)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (D khai nhận là ma túy đá, bút lục số 24).
Tại bản kết luận giám định số 120/2020/GĐ-MT ngày 29/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể trắng trong 01 túi nylon (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,5485 gam; Tinh thể trắng trong 01 túi nylon (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 84,6888 gam (bút lục số 55).
Vật chứng vụ án: 01 bì thư ký hiệu số 120 M1 ngày 27/5/2020; 01 bì thư ký hiệu số 120 M2 ngày 27/5/2020; 01 hộp gỗ màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử màu bạc; 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 quẹt ga màu; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen; 01 chiếc hộp nhựa màu vàng và số tiền 1.510.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 144/CT-VKS ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 27 tháng 10 năm 2020 của viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người làm chứng là Phan Hoàng Hải Đ, Ngô Anh T, Trương Thụy Thanh T, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định... Tổng khối lượng số ma túy thu giữ của D cất giấu là 86,2373 gam loại Ketamine (theo OCR trang 4). Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này, bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo do đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội D: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D (tên gọi khác: Tèo nuôi) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27 tháng 5 năm 2020.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến ma túy và dụng cụ sử dụng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo và số tiền 1.510.000 đồng.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - Sở Tư pháp Tỉnh Bình Phước - Phòng PV 06- Công an tỉnh Bình Phước - VKSND tỉnh Bình Phước - VKSND thành phố Đ; - Chi cục Thi hành án thành phố Đ - Nhà tạm giữ CA thành phố Đ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hoàng Hữu Bình |
Bản án số 145/2020/HSST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 145/2020/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2020
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
