Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 144A/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngân
Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1993;

Địa chỉ cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An;

Địa chỉ cư trú hiện nay: Số nhà A khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Cao Xuân T, sinh năm 1990;

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An;

Hiện đang cư trú tại: Nước H; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:

Chị và anh Cao Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 23 tháng 12 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm, tính cách của vợ chồng khác nhau, thiếu quan tâm và tin tưởng lẫn nhau. Đến đầu năm 2024, anh T đi xuất khẩu lao động ở nước Hungary. Thời gian đầu, vợ chồng còn liên lạc nhưng sau đó do hai bên đều bận công việc nên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng dần mất đi. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Xuân T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Cao Đức D, sinh ngày 08/7/2017 và Cao Đức V, sinh ngày 17/8/2019. Hiện các con đang ở với chị và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Cao Xuân T phải cấp dưỡng con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Chị Nguyễn Thị O hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Cao Xuân T, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của anh Cao Xuân T là bà Trần Thị L (mẹ của anh T) đến lần thứ hai mà thân nhân của anh T cũng không cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, anh T cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bà Trần Thị L (mẹ của anh T) có đơn trình bày: Anh Cao Xuân T là con trai của bà. Anh T và chị Nguyễn Thị O kết hôn với nhau vào năm 2016. Để cải thiện kinh tế gia đình, đầu năm 2024 anh T đi xuất khẩu lao động tại nước Hungary. Anh T thường xuyên gọi điện thoại cho bà để hỏi thăm sức khỏe và thông báo tình hình công việc. Tuy nhiên vì công việc không ổn định, thường xuyên thay đổi nên nơi cư trú cũng không ổn định. Do đó, anh T không thể cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho anh T biết việc chị O nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T cũng đồng ý ly hôn vì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Việc anh Cao Xuân T vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị O, cho chị O được ly hôn với anh Cao Xuân T. Về con chung: Đề nghị giao cho chị O được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Cao Đức D, sinh ngày 08/7/2017 và Cao Đức V, sinh ngày 17/8/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị O không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu và anh T chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị O có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Xuân T hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn anh Cao Xuân T không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị O phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu và chứng cứ mà chị đã nộp cho Tòa án. Bị đơn anh Cao Xuân T hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T thông qua người thân là bà Trần Thị L (mẹ của anh T) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Cao Xuân T”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu anh T trình bày ý kiến về việc chị O có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh T cũng không cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía bà Trần Thị L (mẹ của anh T) có đơn trình bày: Anh Cao Xuân T là con trai của bà. Anh T và chị Nguyễn Thị O kết hôn với nhau vào năm 2016. Để cải thiện kinh tế gia đình, đầu năm 2024 anh T đi xuất khẩu lao động tại nước Hungary. Anh T thường xuyên gọi điện thoại cho bà để hỏi thăm sức khỏe và thông báo tình hình công việc. Tuy nhiên vì công việc không ổn định, thường xuyên thay đổi nên nơi cư trú cũng không ổn định. Do đó, anh T không thể cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho anh T biết việc chị O nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T cũng đồng ý ly hôn vì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 17/3/2025 và lần thứ hai vào ngày 08/4/2025 nhưng cả hai lần anh T đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh Cao Xuân T vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Cao Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 23 tháng 12 năm 2016, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị O trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm, tính cách của vợ chồng khác nhau, thiếu quan tâm và tin tưởng lẫn nhau. Đến đầu năm 2024, anh T đi xuất khẩu lao động ở nước Hungary. Thời gian đầu, vợ chồng còn liên lạc nhưng sau đó do hai bên đều bận công việc nên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng dần mất đi. Theo Công văn số 5549/QLXNC-Đ1 ngày 27/12/2024 của Phòng Q, Công an tỉnh N cung cấp: Anh Cao Xuân T đã xuất cảnh ngày 30/01/2024 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nay chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị O và anh Cao Xuân T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị O yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Theo chị Nguyễn Thị O trình bày, chị và anh T có 02 con chung, hiện các con đang do chị O chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị O có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của chị O phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay, anh T đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ còn chị O đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của chị O. Giao cho chị Nguyễn Thị O được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Cao Đức D, sinh ngày 08/7/2017 và Cao Đức V, sinh ngày 17/8/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị O không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu và anh Cao Xuân T chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị O.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Cao Xuân T.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị O được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Cao Đức D, sinh ngày 08/7/2017 và Cao Đức V, sinh ngày 17/8/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị O không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Cao Xuân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị O đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013888 ngày 17/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị O đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị O có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Cao Xuân T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Quỳnh Giang, Quỳnh Lưu, NA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144A/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 144A/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị O - Cao Xuân T - ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger