TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 144/2024/DS-ST Ngày: 31-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
V/v “Kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên và ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Y Kăn Niê- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2023/DS-ST, ngày 09 tháng 5 năm 2023, Về việc: “Kiện đòi tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Q.
Địa chỉ: Số A đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
* Bị đơn và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị D (đã chết): Ông Vũ Mạnh T và ông Vũ Khánh T1
Cùng địa chỉ: Số A đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị D:
1. Ông Vũ Gia T2, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1.
Cùng địa chỉ: Số A đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đoàn Phước C.
Địa chỉ: Số F đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bà Bùi Thị Ngọc A
Địa chỉ: Số A đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Đề nghị xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Ngọc Q trình bày:
Theo Bản án số 22/2023/DS-PT, ngày 06/01/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thì tôi được công nhận 500m² mua từ ông Trần Nguyên V theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được ký kết ngày 13/10/2020, giữa ông Trần Nguyên V với vợ chồng tôi đối với thửa đất số 57 tờ bản đồ số 71 có diện tích 500m², tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Sau đó tôi đi làm thủ tục biến động sang tên và thay đổi cơ sở pháp lý vào ngày 28/02/2023 theo hồ sơ số 992017.CN.001. Khi tôi xuống nhận đất để sử dụng thì phát hiện ông Đoàn Phước C lấn chiến là 100m² (5mx20m) và hộ bà Bùi Thị D và các con ông Vũ Gia T2, ông Vũ Mạnh T, ông Vũ Khánh T1, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1 lấn chiếm là 78,3 m² và không chịu giao đất cho tôi. Sau đó tôi đến liên hệ với Cơ quan thi hành án thì được Cơ quan thi hành án trả lời là không thuộc thẩm quyền và hướng dẫn tôi khởi kiện tại Toà án. Vì vậy, tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu hộ bà Bùi Thị D và ông Đoàn Phước C phải trả tổng diện tích là 178,3 m².
Qua quá trình thẩm định của Tòa án xác định hiện nay chỉ có ông Vũ Mạnh T và ông Vũ Khánh T1, đang quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 178,3 m² nên tôi thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông Vũ Khánh T1, ông Vũ Mạnh T phải trả cho tôi tổng diện tích đất là 178,3m² thuộc một phần thửa số 57, tờ bản đồ số 71, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn và người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị D trình bày:
2.1. Ông Vũ Khánh T1 trình bày:
Ông Trần Ngọc Q khởi kiện buộc gia đình tôi phải trả cho ông Trần Ngọc Q diện tích lấn chiếm là 78,3m² và ông Đoàn Phước C phải trả diện tích đất 100m², tổng cộng là 178,3m². Phần đất lấn chiếm tọa lạc tại thửa số 57, tờ bản đồ số 71, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tôi có ý kiến như sau: Để giải quyết hậu quả của bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT về 100m² nói trên, giữa gia đình tôi và gia đình ông C đã thoả thuận giải quyết xong nên ông C không có quyền lợi nào liên quan đến diện tích đất 100 m² nữa mà ông C đã giao cho tôi và ông T quản lý. Trong bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023, Hội Đồng Xét Xử tuyên xử:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được ký kết ngày 13/10/2020, giữa ông Trần Nguyên V với vợ chồng ông Trần Ngọc Q, bà Bùi Thị Ngọc A đối với thửa đất số 57 tờ bản đồ số 71 có diện tích 500m², do đó đề nghị ông Q gặp ông V, cơ quan thi hành án và các đơn vị liên quan để có hướng dẫn thực hiện hoàn thành hợp đồng trên.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị D về yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 09974, quyển số 6-TP/CCSCC/HĐGD ngày 20/6/2020 giữa hộ bà Bùi Thị D và ông Trần Nguyên V vô hiệu, buộc ông Trần Nguyên V phải trả lại bằng tiền tương đương với diện tích đất 178,3m² là 641.880.000 đồng cho hộ Bùi Thị D và về chi phí tố tụng 3.850.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông V phải trả cho gia đình tôi là 645.730.000 đồng.
Sau khi Tòa án ban hành bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023, Mẹ tôi là bà Bùi Thị D đã có đơn yêu cầu thi hành án gửi đến Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột và đã được ban hành quyết định Thi hành án theo yêu cầu số 1165/QĐ-CCTHADS ngày 06/02/2023. Qua quá trình giải quyết việc thi hành án đến ngày 5/5/2023 Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột ban hành Quyết định 141/QĐ-CCTHADS về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với ông Trần Nguyên V. Hiện nay ông V chưa thực hiện nghĩa vụ giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 09974, quyển số 6-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2020 giữa hộ bà Bùi Thị D và ông Trần Nguyên V vô hiệu đối với diện tích đất cho mượn 178,3m², tức là hoàn trả số tiền 645.730.000 đồng cho gia đình chúng tôi như trong bản án số 22/2023/DS-PT đã tuyên xử. Do đó, đến nay gia đình chúng tôi tuân thủ giữ nguyên hiện trạng diện tích đất 178,3m² cho mượn này để có cơ sở chấp hành phán quyết của bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT toàn án đã tuyên. Với các điều nêu trên, việc ông Q khởi kiện gia đình chúng tôi là không có căn cứ. Vì trong phần nhận định của bản án 22/2023/DS-PT có thể dễ nhận thấy dấu hiệu lừa đảo của ông Vũ m gia đình chúng tôi diện tích đất 178.3m² để đủ diện tích 500m², tiến hành tách thửa, đem bán cho gia đình ông Q. Sau đó tẩu tán số tiền thu được nhằm chiếm đoạt tài sản của gia đình tôi. Mẹ tôi vì đeo đuổi công lý cho gia đình, ròng rã hơn 3 năm trời cuối cùng nhận được bản án bằng giấy, buộc phải mất mảnh đất tổ tiên để lại. Số tiền đền bù thì gần như là không đòi lại được và sau đó mẹ tôi đã chết. Vì thế tôi bắt buộc phải tiếp tục công việc bảo vệ quyền lợi, danh dự của gia đình. Qua tìm hiểu Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2015, tại điểm d. khoản 1, Điều 214 quy định về các trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.: “Cần đợi kết quả thực hiện giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật qui định là phải do cơ quan tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án”.
Để tránh sự chồng chéo với bản án chưa thi hành xong, ông V chưa thi hành trả cho gia đình tôi tổng cộng số tiền là 645.730.000 đồng nên tôi đề nghị Toà án xem xét giải quyết bác bỏ đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc Q.
2.2. ÔngVũ Mạnh T trình bày: Tôi thống nhất với ý kiến của ông Vũ Khánh T1, ngoài ra tôi không có ý kiến gì thêm.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị D: Ông Vũ Gia T2, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1 cùng trình bày trong các đơn trình bày ngày 28/5/2023 và các bản tự khai ngày 30/5/2023:
Theo bản án phúc thẩm số 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của TAND tỉnh Đắk Lắk. Hội Đồng xét xử Quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng giữa bà D, ông V với diện tích 178,3 m²; Công nhận một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng giữa bà D, ông V với diện tích 321,7m²; Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng công chứng giữa ông V, ông Q.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Q về việc: Tuyên hủy Giấy sang nhượng giữa bà D, ông C; Không hủy giấy thỏa thuận mượn đất giữa ông V và bà D.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đoàn Phước C về việc, tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng giữa bà D, ông V.
Giải quyết hậu quả: Ông V có nghĩa vụ trả lại cho bà D giá trị diện tích 178,3m² với giá 641.880.000 đồng theo biên ban định giá. Như vậy theo quyết định của Bản án phúc thẩm thì diện tích đất mà ông Trần Ngọc Q kiện gia đình tôi là không đúng. Lý do: Tòa phúc thẩm công nhận một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng giữa bà D và ông V với diện tích 321,7m². nghĩa là ông V chỉ có 321,7 m² trong bìa đất 500m².
Hiện tại ông V là người mà Bản án phúc thẩm buộc phải trả lại cho gia đình số tiền tương đương với trị giá miếng đất 178,3m² với số tiền là 641.880.000 đồng và 3.850.000 đồng tiền chi phí tố tụng, tổng cộng là 645.730.000 đồng. Hiện nay gia đình tôi chưa nhận được số tiền mà Tòa án buộc ông V phải trả nên gia đình tôi chưa giao đất cho ông Q chứ gia đình tôi và ông C không chiếm đất của ông Q. Chúng tôi cam đoan sẽ giao 178,3m² đất còn lại cho ông Trần Ngọc Q ngay sau khi nhận đủ số tiền mà Tòa phúc thẩm buộc ông V phải trả cho gia đình chúng tôi là 645.730.000đồng.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
4.1. Trong quá trình tham gia tố tụng bà Bùi Thị Ngọc A trình bày:
Ông Q khởi kiện hộ gia đình bà D và ông C là hoàn toàn đúng, tôi đồng ý như đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Q. Mọi vấn đề ông Q quyết định tôi đều đồng ý, tôi không trình bày gì thêm.
4.2. Ông Đoàn Phước C trình bày tại bản tự khai ngày 28/5/2023:
Ngày 15 tháng 5 năm 2020, chúng tôi có mua của vợ chồng ông Vũ Gia T2 và bà Bùi Thị D một mảnh đất có chiều dài: 20m, rộng 5m. Vợ chồng tôi đã thanh toán đủ số tiền theo thỏa thuận của hai bên. Việc bà D chuyển nhượng đất cho tôi thì anh V có biết. Bên cạnh đó anh V còn đề nghị bán cho tôi một số đất mà anh V đã mua của vợ chồng bà D. Trong văn bản thỏa thuận mà anh V đã ký vào ngày 30/6/2020, bà D có ghi là số đất còn lại trong bìa đất 500m² là của tôi và của bà D. Theo suy nghĩ của tôi: Vì anh V mượn đất với mục đích mở đường và sau khi làm đường xong thì sẽ trả lại đất nên vợ chồng bà D đã đồng ý cho mượn lại còn chuyển nhượng luôn bìa đất 500m² cho V để anh V làm hồ sơ xin mở đường. Khi không được phép mở đường, anh V đã sinh lòng tham, muốn chiếm số đất đã mượn của bà D nên đã nhượng bìa 500m² đó cho anh Q. Như vây anh V đã lợi dụng sự tín nhiệm của vợ chồng bà D để chiếm đoạt tài sản của nhà bà D. Trong Bản án Phúc thẩm ngày 06/01/2023 của Tòa án tỉnh Đắk Lắk: Hội Đồng Xét xử đã tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Bà D), tuyên vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng công chứng giữa bà D, ông V với diện tích 178,3m²; Công nhận một phần hợp đồng chuyển nhượng công chứng giữa bà D, ông V với diện tích 321,7m²; Không hủy Giấy thỏa thuận mượn đất giữa ông V và bà D; Tuyên hủy Giấy sang nhượng giữa bà D, ông C. Đây là định hướng giải quyết vụ án, tôi không có ý kiến, vì đây là thẩm quyền của Hội đồng xét xử khi nghiên cứu hồ sơ. Nhưng khi Tòa tuyên hủy Giấy sang nhượng giữa tôi và bà D có nghĩa là Tòa đã công nhận số đất 178,3m² còn lại trong bìa 500m² là của bà D. Anh V đã lợi dụng sự tin tưởng trong tình bạn để lừa dối anh Q. Ông V phải trả lại cho bà D diện tích đất mượn178,3m² nhưng diện tích 178,3m² là đất nông nghiệp không đủ điều kiện tách thửa theo quy định của pháp luật về đất đai nên cần buộc ông V phải trả lại bằng tiền. Hiện nay theo tôi được biết anh V chưa thực hiện
nghĩa vụ thị Hành án, chưa có điều kiện thi hành án theo quyết định thi hành án. Tôi nghĩ vợ chồng bà D là người cao tuổi và có lòng tự trọng, họ sẽ giao đất cho anh Q nếu họ đã nhận được số tiền tòa buộc anh V phải trả cho họ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Q: Buộc ông Vũ Khánh T1 và ông Vũ Mạnh T phải trả cho ông Trần Ngọc Q diện tích đất là 178,3 m² thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 71, diện tích là 500 m², đất toạ lạc tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 612461 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Trần Nguyên V ngày 05/10/2020, biến động sang tên cho ông Trần Ngọc Q ngày 28/2/2023.
Đối với tài sản trên đất: Buộc ông Trần Ngọc Q phải bồi thường giá trị tài sản trên đất 2.093.175 đồng cho ông T1 và ông T.
Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất đã được Tòa án công nhận nên là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về tư cách tham gia tố tụng: Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Bùi Thị D chết thì ông Vũ Gia T2, ông Vũ Mạnh T, ông Vũ Khánh T1, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà D.
Đối với ông Đoàn Phước C, ông Vũ Gia T2, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1 theo đơn khởi kiện xác định là bị đơn. Tuy nhiên hiện nay ông Q chỉ khởi kiện yêu cầu ông Vũ Khánh T1 và ông Vũ Mạnh T (là người đang quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp) phải giao trả lại đất nên cần xác định ông Đoàn Phước C; ông Vũ Gia T2, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn ông Vũ Khánh T1 và ông Vũ Mạnh T là bị đơn.
[3]. Về yêu cầu triệu tập người tham gia tố tụng: Bị đơn yêu cầu triệu tập ông Trần Nguyên V tham gia tố tụng để làm rõ nguồn gốc đất. Xét thấy về nguồn gốc đất đã được giải quyết tại Bản án của Tòa án tỉnh Đắk Lắk nên việc triệu tập ông Trần Nguyên V tham gia tố tụng trong vụ án này là không cần thiết.
[4]. Về thủ tục tố tụng: Ông Vũ Gia T2, ông Vũ Minh T3, ông Vũ Quốc Minh Q1; ông Đoàn Phước C và bà Bùi Thị Ngọc A đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[5] Về nội dung vụ án:
Tại bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được ký kết ngày 13/10/2020, giữa ông Trần Nguyên V với vợ chồng ông Trần Ngọc Q, bà Bùi Thị Ngọc A đối với thửa đất số 57 tờ bản đồ số 71 có diện tích 500m²; Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 09974, quyển số 6-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2020 giữa hộ bà Bùi Thị D và ông Trần Nguyên V vô hiệu buộc ông Trần Nguyên V phải trả lại bằng tiền tương đương với diện tích đất 178,3m² là 641.880.000đồng cho hộ Bùi Thị D. Hiện nay bản án trên đã có hiệu lực pháp luật.
Ngày 28/02/2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B biến động sang tên quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 57, tờ bản đồ số 71, có diện tích là 500m², đất toạ lạc tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho ông Trần Ngọc Q.
Ngày 06/01/2023, bà Bùi Thị D đã có đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột đã được ban hành quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1165/QĐ-CCTHADS ngày 06/02/2023. Qua quá trình giải quyết việc thi hành án đến ngày 05/5/2023 Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột ban hành Quyết định 141QĐ-CCTHADS về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với ông Trần Nguyên V (không có tài sản thi hành) nên khi ông Q xuống nhận nhận quản lý, sử dụng thì phát sinh tranh chấp với hộ gia đình bà D và ông C.
[5.1] Xét yêu cầu khởi kiện ông Q, Hội đồng xét xử, xét thấy:
Tại bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xét xử: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được ký kết ngày 13/10/2020, giữa ông Trần Nguyên V với vợ chồng ông Trần Ngọc Q, bà Bùi Thị Ngọc A đối với thửa đất số 57 tờ bản đồ số 71 có diện tích 500m²; Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 09974, quyển số 6-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2020 giữa hộ bà Bùi Thị D và ông Trần Nguyên V vô hiệu buộc ông Trần Nguyên V phải trả lại bằng tiền tương đương với diện tích đất 178,3m² là 641.880.000đồng cho hộ Bùi Thị D.
Ngày 28/02/2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đã biến động sang tên quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 57, tờ bản đồ số 71, có diện tích là 500m², đất trồng cây hàng năm khác, toạ lạc tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho ông Trần Ngọc Q và bà Bùi Thị Ngọc A. Như vậy ông Q và bà A đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích trên nói trên.
[5.2]. Xét ý kiến của bị đơn cho rằng: Hiện nay ông V không có tài sản để thi hành trả cho gia đình bị đơn tổng cộng số tiền là 645.730.000 đồng theo bản án số 22/2023/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk nên không đồng ý giao diện tích đất 178,3m² cho ông Q. Đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án để đợi kết quả thực hiện giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật qui định là phải do cơ quan tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án.
Xét thấy, Bản án Dân sự phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử: Buộc ông Trần Nguyên V phải trả lại bằng tiền tương đương với diện tích đất 178,3m² là 641.880.000đồng cho gia đình bị đơn, việc ông V chưa thi hành nghĩa vụ trên cho gia đình bị đơn không liên quan đến nghĩa vụ ông Q.
Tại biên bản xác minh của Chi cục thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột xác định: Căn cứ Bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Chi cục thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành quyết định Thi hành án theo yêu cầu số1165/QĐ-CCTHADS ngày 06/02/2023 của bà D. Theo quyết đinh này không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của ông Q và phạm vi Thi hành quyết định thi hành án cũng không làm ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của ông Q.
Hơn nữa, Tại công văn 96/CV-TA ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xác định các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk nên Tòa án không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Như vậy, hiện nay bị đơn cho rằng cần đợi kết quả thi hành xong Bản án phúc thẩm 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mới trả lại đất trên cho ông Q là không có căn cứ.
Quá trình xem xét thẩm định của Tòa án, bị đơn ông T1 và ông T xác định hiện nay ông C và gia đình ông T1 và ông T đã thoả thuận giải quyết xong theo Bản án phúc thẩm số 22/2023/DS-PT ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk nên ông C không có quyền lợi nào liên quan đến diện tích đất tranh chấp mà hiện nay ông T1 và ông T đang quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất là 178,3m².
Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc Q:
Buộc ông Vũ Khánh T1 và ông Vũ Mạnh T phải trả cho ông Trần Ngọc Q diện tích đất là 178,3 m², đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 71, diện tích đất là 500m², toạ lạc tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 612461 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Trần Nguyên V ngày 05/10/2020, biến động sang tên cho ông Trần Ngọc Q và bà Bùi Thị Ngọc A ngày 28/2/2023.
Tứ cận diện tích đất: Phía Đông giáp đất ông T4 cạnh dài: 7.33m; Phía Tây giáp đường hẻm tự mở cạnh dài: 16,93m; Phía Bắc giáp thửa 71 còn lại của ông Q, cạnh dài 15.36m; Phía Nam giáp đất của ông Vũ Gia T2 cạnh dài 20.62m.
Đối với tài sản trên đất: 01 tẹc nước gắn trên trụ sắt cao 4m và 01 hàng rào lưới B40 bao quanh thửa đất là của ông Vũ Khánh T1, đây là tài sản di dời được nên buộc ông Vũ Khánh T1 phải di dời tài sản trên.
[6]. Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí và chi phí tố tụng. Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn tạm ứng án phí và chi phí tố tụng sau khi thu được từ bị đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166; điều 169; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 99; Điều 100; Điều 170 Luật đất đai năm 2013;
-Áp dụng Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc Q;
Buộc ông Vũ Khánh T1 và ông Vũ Mạnh T phải trả cho ông Trần Ngọc Q diện tích đất là 178,3 m², đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 71, diện tích là 500m², đất toạ lạc tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 612461 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Trần Nguyên V ngày 05/10/2020, biến động sang tên cho ông Trần Ngọc Q và bà Bùi Thị Ngọc A ngày 28/2/2023.
Tứ cận diện tích đất: Phía Đông giáp đất ông T4 cạnh dài: 7.33m; Phía Tây giáp đường hẻm tự mở cạnh dài: 16,93m; Phía Bắc giáp thửa 71 còn lại của ông Q, cạnh dài 15.36m; Phía Nam giáp đất của ông Vũ Gia T2 cạnh dài 20.62m.
Đối với tài sản trên đất: Buộc ông Vũ Khánh T1 phải di dời 01 tẹc nước gắn trên trụ sắt cao 4m và 01 hàng rào lưới B40 bao quanh thửa đất.
2.Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Khánh T1 phải chịu 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Ông Vũ Mạnh T phải chịu 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Trần Ngọc Q số tiền tạm ứng án phí 14.838.000đồng đã nộp theo biên lai số 0001879 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
3.Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc bằng máy 3.296.000đồng; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.000.000đồng và 1.500.000đồng tiền định giá tài sản, tổng cộng 5.796.000đồng. Trong đó ông Vũ Khánh T1 phải chịu 2.898.000 đồng và ông Vũ Mạnh T phải chịu 2.898.000 đồng.
Trả lại cho ông Trần Ngọc Q 5.796.000đồng chi phí tố tụng sau khi thu được từ ông T1 và ông T.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./
Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk lắk -VKSND tỉnh; -VKSND Tp. BMT; -THADS TP. BMT; -Đương sự; -Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 144/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 144/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc Quang; Buộc ông Vũ Khánh Thành và ông Vũ Mạnh Tiến phải trả cho ông Trần Ngọc Quang diện tích đất là 178,3 m2, đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa số 57, tờ bản đồ số 71, diện tích là 500m2, đất toạ lạc tại tổ dân phố 8, phường Tân Tiến, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 612461 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Trần Nguyên Vũ ngày 05/10/2020, biến động sang tên cho ông Trần Ngọc Quang và bà Bùi Thị Ngọc Anh ngày 28/2/2023. Tứ cận diện tích đất: Phía Đông giáp đất ông Thái cạnh dài: 7.33m; Phía Tây giáp đường hẻm tự mở cạnh dài: 16,93m; Phía Bắc giáp thửa 71 còn lại của ông Quang, cạnh dài 15.36m; Phía Nam giáp đất của ông Vũ Gia Tiên cạnh dài 20.62m. Đối với tài sản trên đất: Buộc ông Vũ Khánh Thành phải di dời 01 tẹc nước gắn trên trụ sắt cao 4m và 01 hàng rào lưới B40 bao quanh thửa đất.
