TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 144/2023/HS-ST Ngày 30-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Của Tòa án nhân dân huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý: 123/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 1968; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn N, xã T, huyện C, TP .; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 5/10; Con ông: Trần Văn T1 (đã chết); Con bà: Trịnh Thị N (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; Con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Danh bản số 351 do Công an huyện C, TP lập ngày 02/06/2023. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1969; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn N, xã T, huyện C, TP .; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 3/10; Con ông: Nguyễn Trung H (đã chết); Con bà: Trần Thị T3 (đã chết). Chồng: Trần Văn T, sinh năm 1968; Con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Danh bản số 354 do Công an huyện C, TP lập ngày 15/06/2023. Hiện bị cáo được áp dụng Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bị hại: Bà Phạm Thanh T4, sinh năm 1979, ĐKHKTT: Tập thể cơ khí và xây lắp số 7, L, T, Hà Nội); Đăng ký tạm trú tại: thôn N, xã T, huyện C, TP ., TP .. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị hại: Ông Nguyễn Phú T5 Luật sư Công ty L; Địa chỉ: Số F, ngõ D, phường K, quận Đ, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/12/2009, Trần Văn T, sinh năm 1968 có ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 1409.1/HDTC-BDS/TCB với Ngân hàng thương mại cổ phần K. Tài sản thế chấp là toàn bộ giá trị quyền sử dụng 210m² đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 159c, tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 978852 do UBND huyện C cấp ngày 15/6/2009 cho Trần Văn T và Nguyễn Thị T2, bên được bảo đảm là Công ty TNHH G, địa chỉ: số C, phố N, Q, H do bà Phạm Thị Minh H1 là Giám đốc. Sau đó, T được nhận số tiền 100.000.000 đồng trong khoản vay của Công ty TNHH G. Đến hạn trả nợ, Công ty TNHH G không trả nợ cho ngân hàng theo quy định nên Ngân hàng TMCP K đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Hà Đông về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Ngày 05/01/2015, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2015/QÐST-KDTM. Theo đó, các đương sự thỏa thuận tính đến ngày 10/12/2014, Công ty TNHH G còn nợ cả gốc và lãi là 5.635.499.444 đồng, nếu công ty TNHH G không trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Công ty TNHH G vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2015/QÐST-KDTM, nên Ngân hàng TMCP K gửi đơn đến Chi cục thi hành án dân sự Quận Hà Đông yêu cầu được thi hành án. Qua xác minh điều kiện thi hành án, ngày 25/01/2019, Chỉ cục thi hành án dân sự quận Hà Đông đã có Quyết định uỷ thác thi hành án số 76/QĐ-CCTHADS đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ để thi hành. Ngày 12/6/2019, Chi cục THADS huyện C đã ban hành Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 901/QĐ-CCTHADS. Ngày 10/11/2020, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ đã ký kết Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 86/2020/ĐG/S1QG với Công ty Đ danh số 1 Quốc gia về việc bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thừa đất số 159C, tờ bản đồ số 01, diện tích 210m² tại thôn N, xã T, C, Hà Nội. Ngày 24/3/2021, Công ty Đ danh số 1 Quốc gia tổ chức bán đấu giá tài sản trên. Kết quả: bà Phạm Thanh T4 (SN: 1979, HKTT: Tập thể cơ khí và xây lắp số 7, L, T, Hà Nội) là người trúng đấu giá. Đến ngày 23/11/2021, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ ra Quyết định số 14/QĐ-CCTHADS về việc
giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá là bà Phạm Thanh T4. Do gia đình Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 không tự nguyện thi hành án, bàn giao tài sản, nên ngày 16/6/2022, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định số 70/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với Trần Văn T và Nguyễn Thị T2.
Ngày 30/12/2022, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ đã thi hành cưỡng chế và bàn giao tài sản trúng đấu giá cho bà Phạm Thanh T4 là thửa đất số 159C, tờ bản đồ số 01, diện tích 210m² tại thôn N, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội và tài sản gắn liền trên đất là: 01 ngôi nhà 2 tầng, tầng trên lợp mái tôn có diện tích 63m²/sàn; 01 gian công trình phụ đổ mái bằng dùng làm bếp và công trình phụ có diện tích 30m²/sàn; 01 gian nhà lợp ngói có fibroximăng có diện tích 10m²; 01 gian nhà lợp tôn xung quanh có tường bao diện tích 16m²; 01 lán tôn có diện tích 25m²; 01 đoạn tường bao có chiều cao 2m và chiều dài 10m (bao gồm có trụ cổng và 2 cánh cổng sắt); 02 cây bưởi. Toàn bộ các đồ dùng, tài sản của gia đình T, T2 (bàn, ghế, giường ngủ ...) được Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ niêm phong lưu trữ tại kho thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ quản lý. Ngay sau khi nhận bàn giao tài sản từ Chi cục thi hành án dân sự, bà T4 đã mua 02 chiếc khoá, khóa cửa nhà ở và khóa cửa cổng.
Sáng ngày 31/12/2022, Trần Văn T thấy không có bà T4, đã tự ý cắt khóa cửa cổng và khóa cửa nhà rồi cùng vợ là Nguyễn Thị T2 dọn đồ đạc vào chiếm lại để ở. Trong buổi sáng cùng ngày, bà T4 đến quản lý sử dụng nhà và kiểm tra tài sản thì phát hiện cửa cổng và cửa nhà đã bị phá khóa, trong nhà có Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 đang sinh sống tại thửa đất trên. Bà T4 đã yêu cầu vợ chồng T, T2 ra khỏi nhà ở của mình, nhưng bị vợ chồng T, T2 nói xúc phạm và thách thức rồi đuổi bà T4 ra khỏi nhà.
Ngày 01/01/2023, bà T4 đến yêu cầu vợ chồng Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 ra khỏi nhà của bà T4, nhưng Nguyễn Thị T2 tiếp tục đuổi chị T4 đi. Kể từ đó, vợ chồng Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 chiếm dụng ngôi nhà trên để ở và sinh hoạt.
Ngày 09/01/2023, bà T4 có Đơn trình báo gửi Công an xã T đề nghị giải quyết việc vợ chồng T, T2 chiếm dụng ở nhà của bà T4. Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp nhận giải quyết vụ việc và tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can Trần Văn T và Nguyễn Thị T2, về tội: “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.
Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Trần Văn T chống đối, không chấp hành, đã bị Cơ quan Điều tra bắt tạm giam, Viện kiểm sát đã phê chuẩn lệnh bắt tạm giam. Bị can Nguyễn Thị T2 chuyển ra khỏi ngôi nhà trả lại cho chị T4. Ngày 22/06/2023, CQĐT đã lập Biên bản về việc bị can Nguyễn Thị T2 trình bày đối với ngôi nhà và phần diện tích đất cùng tài sản gắn liền với đất thì bị can T2 không còn sử dụng mà đã chuyển hết đồ đạc ra bên ngoài, trả lại hiện trạng. Bà Phạm Thanh
T4 đã được nghe quan điểm của bị can Nguyễn Thị T2 nhưng chưa có ý kiến gì về nhận lại nhà, mà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/8/2023, CQĐT đã tiến hành lập Biên bản kiểm tra xác định hiện trạng của phần diện tích đất cùng tài sản gắn liền với đất có liên quan đến vụ án trên xác định: cửa cổng đóng không khóa, cửa nhà đóng không khóa bên trong nhà không có đồ vật tài sản gì, không có ai ở hoặc sinh sống tại ngôi nhà, xung quanh không có đồ đạc, tài sản gì, không có ai quản lý hoặc trông coi đối với phần diện tích đất cùng tài sản gắn liền trên đất. CQĐT đã tiền hành chụp ảnh ghi nhận kèm theo. Đồng thời, ngày 22/8/2023, CQĐT yêu cầu bà Phạm Thanh T4 đến nhận lại và quản lý nhà đất trên, nhưng bà T4 không đồng ý nhận.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) USB dung lượng 16Gb, nhãn hiệu SANDISK, vỏ nhựa màu đen, bên trong đầu đọc dữ liệu bằng kim loại, USB cũ đã qua sử dụng do bà T4 giao nộp thể hiện nội dung vợ chồng T, T2 nói xúc phạm và thách thức rồi đuổi bà T4 ra khỏi nhà. (USB được thu giữ chuyển theo hồ sơ vụ án).
Tại bản kết luận giám định số 1060/KL-HĐĐG ngày 03/4/2023 của V1-
Bộ C kết luận: “Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG ngày 22/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận:
- 01 (một) khóa Việt Tiệp loại cầu ngang, màu vàng, có chốt đưa ngang, bề ngang rộng 70cm, chiều cao 65mm, mua mới ngày 30/12/2022, bị hư hỏng then chốt. Tại thời điểm tháng 12/2022 có giá trị là: 150.000 đồng.
- 01 (một) khóa Việt Tiệp loại treo, màu đen, có chốt móc khóa cong dạng hình chữ U, bề ngang rộng 50mm, chiều cao 65mm, mua mới ngày 30/12/2022, bị hư hỏng then chốt. Tại thời điểm tháng 12/2022 có giá trị là: 40.000 đồng.
Tổng giá trị là: 190.000 đồng (một trăm chín mươi nghìn đồng).
Trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra người bị hại bà Phạm Thanh T4 đưa ra yêu cầu Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 phải bồi thường thiệt hại về kinh tế cho bà trong thời gian xâm phạm chỗ ở theo quy định của pháp luật, nhưng giá trị cụ thể thiệt hại, cũng như các chứng cứ làm căn cứ cho yêu cầu của mình bà T4 không cung cấp, xuất trình cho cơ quan tiến hành tố tụng. Bà Phạm Thanh T4 yêu cầu bồi thường đối với hai chiếc khóa đã bị phá hỏng theo quy định của pháp luật. Bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 chưa bồi thường, khắc phục hậu quả cho chị Phạm Thanh T4.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKSTXST ngày 14/09/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị T2 về tội tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác” quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa người bị hại và Phạm Thanh T4 có ý kiến Yêu cầu xem xét bồi thường tài sản bị thiệt hại là hai chiếc khóa bị cắt là 190.000 đồng. Đồng thời, bà T4 đề nghị các bị cáo phải bồi thường về vật chất cho thiệt hại do hành vi của các bị cáo nên bị hại không quản lý, sử dụng được nhà ở không thực hiện được việc chuyển nhượng tài sản, cũng như cho thuê tài sản. Bà T4 xác định giá trị thiệt hại là tiền mua đất trúng đấu giá cộng với lãi suất 1,7%/01 tháng từ ngày 30/12/2022 cho đến ngày xét xử là 11 tháng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại xác định căn cứ để yêu cầu bồi thường là số tiền 950.000.000 đồng theo Kết quả bán đấu giá mà bà T4 đã trúng đấu giá mua được diện tích nhà, đất cộng với lãi suất trung bình của ba ngân hàng V2, V3 và V4 là 6,6%/01 năm từ ngày 30/12/2022 cho đến ngày xét xử là 11 tháng. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường về thiệt hại là 67.833.000 đồng. Đồng thời, người bị hại cũng yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần do việc căng biểu ngữ, viết lên tường các bị cáo đã thực hiện trong thời gian xâm phạm chỗ ở bằng mức lương cơ bản 1.800.000 đồng nhân với 10 tháng là 18.000.000 đồng. Người bị hại đề nghị căn cứ vào Kết quả bán đấu giá tài sản để làm căn cứ tính các yêu cầu bồi thường như đã đề nghị.
Về hình phạt người bị hại cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại đề nghị xét xử nghiêm khắc đối với các bị cáo vì các bị cáo đã không ăn năn hối cải. Hành vi xâm phạm chỗ ở, chiếm chỗ ở của các bị cáo kéo dài, các bị cáo không hợp tác đối với cơ quan điều tra để giải quyết vụ án. Sau khi bị cáo T bị bắt thì bị cáo T2 vẫn tiếp tục chiếm giữ nhà để ở. Người bị hại đề nghị xác định đây là tình tiết tăng nặng trách niệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên, các bị cáo thực hiện là có tổ chức nên đề nghị xem xét chuyển khung hình phạt từ khoản 1 sang điểm a, c khoản 2 Điều 158 BLHS tội Xâm phạm chỗ ở của người khác.
Đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận xác định các bị cáo đã có hành vi xâm phạm chỗ ở kéo dài, thời gian đầu bất hợp tác với cơ quan điều tra. Tuy nhiên, xét thấy việc không thành khẩn trong giai đoạn đầu là do hai bị cáo nhận thức còn hạn chế. Sau khi bị cáo T bị bắt giữ, bị tạm giam, hai bị cáo đều được cảm hóa, giáo dục nên cả hai đã thành khẩn khai báo và ăn năn với hành vi vi phạm của
mình, tại phiên tòa ngày hôm nay, hai bị cáo vẫn giữ nguyên thái độ ăn năn đó. Đối với ý kiến của người bị hại về tình tiết phạm tội có tổ chức đại diện Viện kiểm sát đánh giá: căn cứ theo quy định về phạm tội có tổ chức Viện kiểm sát xác định hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Tại phiên tòa, bị cáo T2 cũng khai chỉ sau khi chồng cắt khóa bị cáo mới biết và tiếp nhận ý chí để cùng thực hiện hành vi xâm phạm chỗ ở, hành vi trên không phải là phạm tội có tổ chức, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, hành vi phạm tội xâm phạm chỗ ở của hai bị cáo được kéo dài từ 31/12/2022 đến nhiều tháng sau đó. Trong quá trình điều tra, truy tố, sau khi xác định hiện trạng tài sản, cơ quan điều tra phối hợp cùng Viện kiểm sát cũng đã mời bị hại đến nhận tài sản 02 lần nhưng bị hại không nhận và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không đủ căn cứ xác định các bị cáo phạm tội nhiều lần và có tổ chức như ý kiến vị luật sư của bị hại đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 158; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, BLHS năm 2015, xử phạt Trần Văn T từ 06 tháng đến 08 tháng tù; Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 158; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015 xử phạt Nguyễn Thị T2 từ 05 tháng đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường của người bị hại buộc các bị cáo bồi thường giá trị hai chiếc khóa bị cắt là 190.000 đồng. Đối với yêu cầu về dân sự đòi bồi thường thiệt hại thiệt hại về tinh thần, về giá trị thiệt hại bị mất do không chuyển nhượng, cho thuê được tài sản của người bị hại với tổng số tiền là: 85.833.000 đồng, đại diện Viện kiểm sát xác định quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay người bị hại không đưa được các tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về giá trị thiệt hại bị mất do không chuyển nhượng, cho thuê được tài sản mà chỉ căn cứ vào Kết quả bán đấu giá tài sản để làm căn cứ yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề nghị xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 thấy:
Tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 khai nhận toàn bộ hành vi Xâm phạm chỗ ở của người khác của mình, như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố. Lời khai của các bị cáo cũng phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa, thể hiện:
Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2015/QÐST-KDTM ngày 05/01/2015 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông và đề nghị thi hành án của Ngân hàng TMCP K. Ngày 12/6/2019, Chi cục THADS huyện C đã ban hành Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 901/QĐ-CCTHADS. Ngày 24/3/2021, Công ty Đ danh số 1 Quốc gia tổ chức bán đấu giá tài sản. Kết quả bà Phạm Thanh T4 (SN: 1979, HKTT: Tập thể cơ khí và xây lắp số 7, L, T, Hà Nội) là người trúng đấu giá. Do Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 không tự nguyện thi hành án, bàn giao tài sản, nên ngày 16/6/2022, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định số 70/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất.
Ngày 30/12/2022, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ đã thi hành cưỡng chế và bàn giao tài sản trúng đấu giá cho bà Phạm Thanh T4 là thửa đất số 159C, tờ bản đồ số 01, diện tích 210m² tại thôn N, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội và tài sản gắn liền trên đất là 01 ngôi nhà 2 tầng, tầng trên lợp mái tôn có diện tích 63m²/sàn; 01 gian công trình phụ đổ mái bằng dùng làm bếp và công trình phụ có diện tích 30m²/sàn; 01 gian nhà lợp ngói có fibroximăng có diện tích 10m²; 01 gian nhà lợp tôn xung quanh có tường bao diện tích 16m²; 01 lán tôn có diện tích 25m²; 01 đoạn tường bao có chiều cao 2m và chiều dài 10m (bao gồm có trụ cổng và 2 cánh cổng sắt); 02 cây bưởi. Ngay sau khi nhận bàn giao tài sản từ Chi cục thi hành án dân sự, bà T4 đã mua 02 chiếc khoá cửa nhà ở và cửa cổng lại rồi đi về.
Sáng ngày 31/12/2022, Trần Văn T thấy không có bà T4 (chủ sử dụng đất sở hữu nhà), liền tự ý cắt khóa cửa cổng và khóa cửa nhà rồi cùng vợ là Nguyễn Thị T2 dọn đồ đạc vào trong nhà ở và sinh hoạt chiếm giữ cản trở không cho bà T4 vào quản lý và sử dụng nhà ở.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG ngày 22/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận:
- 01 (một) khóa Việt Tiệp loại cầu ngang, màu vàng, có chốt đưa ngang, bề ngang rộng 70cm, chiều cao 65mm, mua mới ngày 30/12/2022, bị hư hỏng then chốt. Tại thời điểm tháng 12/2022 có giá trị là: 150.000 đồng.
- 01 (một) khóa Việt Tiệp loại treo, màu đen, có chốt móc khóa cong dạng hình chữ U, bề ngang rộng 50mm, chiều cao 65mm, mua mới ngày 30/12/2022, bị hư hỏng then chốt. Tại thời điểm tháng 12/2022 có giá trị là: 40.000 đồng.
Tổng giá trị là: 190.000 đồng (một trăm chín mươi nghìn đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy, Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 đã có hành vi cắt khóa cửa xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác, chiếm giữ trái pháp luật nhà ở của người đang quản lý hợp pháp, tự ý dọn đồ đạc của mình vào nhà khi người quản lý nhà đi vắng rồi ở luôn trong nhà... xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người làm cho chủ sở hữu nhà ở bị mất tạm thời chỗ ở, bị ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sinh hoạt bình thường của chủ sở hữu nhà ở. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 phạm tội Xâm phạm chỗ ở của người khác, tội phạm vụ hình phạt được qui định tại điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự năm 2015. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án có đồng phạm bị cáo Trần Văn T là người cắt khóa cửa vào nhà ở, bị cáo T2 là vợ tiếp nhận ý chí cùng thực hiện hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác là đồng phạm giản đơn. Bị cáo T2 còn có hành vi cản trở người chủ sở hữu nhà ở thực hiện quyền quản lý, sử dụng nhà ở của mình. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo thực hiện các hành vi cản trở là do nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên xác định hành vi phạm tội của bị cáo T2 là tiếp nhận ý chí, là đối tượng phụ thuộc nên đánh giá vai trò bị cáo T2 thấp hơn bị cáo T.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chỗ ở của người khác là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của con người. Quyền này được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013. “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép...” được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo chiếm giữ chỗ ở của người khác kéo dài hơn 05 tháng, khi cơ quan tiến hành tố tụng đã có Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quá trình giải quyết vụ án các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 vẫn tiếp tục để tài sản sinh hoạt trong chỗ ở của người khác thể hiện sự coi thường
pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tại phiên tòa các bị cáo đã có sự nhận thức về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là công dân có hành vi phạm tội, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng:
[6]. Về dân sự: Đối với yêu cầu xem xét bồi thường tài sản bị thiệt hại là hai chiếc khóa bị cắt là 190.000 đồng của người bị hại, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường của người bị hại buộc các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 bồi thường giá trị hai chiếc khóa bị cắt là 190.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG ngày 22/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C.
Đối với yêu cầu về dân sự đòi bồi thường thiệt hại thiệt hại về tinh thần, về giá trị thiệt hại bị mất do không chuyển nhượng, cho thuê được tài sản của người bị hại Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án tại các cơ quan tiến hành tố tụng người bị hại không có yêu cầu cụ thể về yêu cầu bồi thường về vật chất cũng như tinh thần. Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại đưa ra yêu cầu đòi bồi thường đối với số tiền thiệt hại về vật chất là 67.833.000 đồng và 18.000.000 đồng tiền thiệt hại về tinh thần nhưng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 30 Bộ Luật tố tụng hình sự xác định “trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại bởi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại thiệt hại về tinh thần, về giá trị thiệt hại bị mất do không chuyển nhượng, cho thuê được tài sản của người bị hại trong vụ án, giành quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác về tranh chấp bồi thường thiệt hại cho người bị hại bà Phạm Thanh T4.
[7]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 phạm tội Xâm phạm chỗ ở của người khác.
Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 158; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn T: 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/06/2023.
Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 158; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 58, Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị T2 03 (Ba) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự: buộc các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 bồi thường giá trị hai chiếc khóa bị cắt là 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng) cho bà Phạm Thanh T4.
Tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại thiệt hại về tinh thần, về giá trị thiệt hại bị mất do không chuyển nhượng, cho thuê được tài sản của người bị hại trong vụ án, giành quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác về tranh chấp bồi thường thiệt hại cho người bị hại bà Phạm Thanh T4.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thị T2 được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Tiến Lợi | Nguyễn Quang Hiểu |
| Nguyễn Thị Luận |
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Hiểu |
Bản án số 144/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xâm phạm chỗ ở của người khác
- Số bản án: 144/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm chỗ ở của người khác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
