TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Diệm, ông Bùi Xuân Linh
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: NGUYỄN HỮU P1, T gọi khác: không; sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1960 và bà: Vũ Thị L, sinh năm: 1960, có vợ: Lê Kim A, sinh năm: 1993 và 01 con sinh năm 2015; tiền sự: Không;
Tiền án: 02:
- + Ngày 21/03/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 22/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/07/2013, chưa đóng án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường thiệt hại số tiền 25.282.126 đồng;
- + Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xửphạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 58/2017/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/07/2018, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: TRẦN ĐỨC H1, T gọi khác: không; sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông: Trần Đình T1 (đã chết) và bà: Tôn Nữ Bích L1, sinh năm: 1973; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;
- Tiền án:
- Ngày 11/03/2021 bị Tòa án nhân dân quận 10, thành phố Hồ Chí Minh xửphạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 20/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/11/2021; chưa chấp hành án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường thiệt hại số tiền 12.000.000 đồng.
- Nhân thân:
- + Ngày 11/11/2020 bị Tòa án nhân dân quận 10, thành phố Hồ Chí Minh raQuyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcsố 141/QĐ-CSCNBB-TA. Đến ngày 27/11/2020 Cơ quan CSĐT Công an quận A1,thành phố Hồ Chí Minh thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam để điều tra vụ án“Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 20/2021/HS-ST Tòa án nhân dân quận 10, thànhphố H ngày 11/03/2021.
- + Ngày 09/04/2021 Công an huyện Đ, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69/QĐ-XPVPHC về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác” số tiền 1.500.000đồng. Nộp phạt ngày 12/04/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/06/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1995; địa chỉ nơi cư trú: Khu phố X, phường T, thành phố Đ, Bình Phước. Vắng mặt.
- Ông Phạm Khánh H, sinh năm 1986
- Ông Nguyễn Vũ K, sinh năm 1992
- Ông Trần Ngọc L2, sinh năm 1996
- Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 2001
Cùng địa chỉ nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, Bình Phước. Đều vắng mặt.
* Người chứng kiến: Ông Đặng Văn T3, sinh năm 1975, địa chỉ nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, Bình Phước. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối tháng 04/2024 Nguyễn Hữu P1, đến thuê phòng trọ ở một mình tại nhà trọ không tên thuộc khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước do bà Trương Thị L3 làm chủ, đến cuối tháng 05/2024 Trần Đức H1 đến thuê phòng trọ của bà L3 ở một mình. Khi ở chung dãy nhà trọ P1 và H1 quen biết nhau, biết cả hai đều sử dụng ma tuý tổng hợp dạng đá. Đến khoảng 04 giờ ngày 06/06/2024, H1 ở trong phòng nảy sinh ý định mua ma tuý đá về sử dụng, nếu có ai hỏi mua thì bán lại kiếm tiền lời, nên H1 gọi điện thoại qua Z cho một người thanh niên tên zalo “M” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua nửa hộp năm ma túy đá, M báo giá 2.000.000 đồng thì H1 đồng ý, M hẹn đi đến Cầu bê tông thuộc xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước để bán ma túy thì H1 đồng ý, H1 thuê xe ôm đi đến khu vực trên, khi đến nơi thì không thấy M đâu nên đã gọi điện thoại qua Z cho M, thì M nói đã cất giấu ma tuý đá trong bao thuốc là trên thành cầu, rồi nói H1 lấy ma tuý xong thì bỏ 2.000.000 đồng vào bao thuốc lá, H1 thấy trên thành cầu A bao thuốc là, mở bên trong có 01 bọc nylon ma túy đá nên lấy bọc nylon cất giấu trong túi quần, lấy 2.000.000đồng bỏ vào bao thuốc là và đặt lại chỗ cũ, sau đó H1 đón xe ôm đi về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ thì H1 lấy một ít ma túy đá trong bọc nylon bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế sử dụng một mình hết số ma túy trong nỏ, còn bọc nylon H1 cất giấu trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc.
Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, khi H1 đang ngồi chơi tại dãy trọ thì có Bùi Văn Đ đến chơi, nói chuyện và hỏi có ma túy đá không, thì H1 nói có, Đ nói “Đ mượn được tiền thì bán cho Đ 500.000 đồng tiền ma túy đá” thì H1 đồng ý. H1 đóng cửa phòng trọ, lấy bọc nylon ma túy đá cất giấu trong túi quần trích ra một ít cân, rồi bỏ vào 01 gói nylon hàn kín lại với mục đích để bán cho Đ. H1 đi sang phòng thứ 2 của dãy trọ gặp P1, H1 nói đang chuẩn bị bán cho Đ 500.000 đồng tiền ma túy đá và nhờ P1 giữ giùm ma túy đá khi nào Đ đưa đủ tiền cho H1 thì H1 nói P1 đưa ma túy cho Đ thì P1 đồng ý, H1 đưa gói nylon ma túy đá mà mới trích ra cho P1 rồi đi bộ ra ngoài đi chơi. P1 cầm gói nylon chứa ma túy trong lòng bàn tay phải chờ H1 nói thì giao cho Đ.
Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi H1 đi bộ về phòng trọ thì Đ ngồi ở dãy hành lang phòng trọ chơi và chuẩn bị đi về do không mượn được tiền để mua ma tuý đá sử dụng, P1 ngồi chơi gần đó và có Nguyễn Vũ K, Đỗ Văn T2, Phạm Khánh H, Trần Ngọc L2 đang ngồi chơi ở hành lang thì Lực lượng công an kiểm tra hành chính, P1 đang cầm gói nylon ma túy đá mà H1 đưa vứt xuống nền hành lang dãy trọ. Qua kiểm tra Công an phát hiện dưới nền hành lang có 01 gói nylon, kích thước (3,0x1,5)cm hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, tiếp tục kiểm tra phát hiện trong túi quần Jean phía trước, bên phải H1 đang mặc có 01 bọc nylon miệng kéo dính, kích thước (9,0x1,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại đây H1, P1 khai nhận tinh thể màu trắng bên trong gói nylon mà P1 vứt xuống nền hành lang là ma túy đá của H1 nhờ P1 giữ giùm để bán cho Đ, còn bọc nylon trong túi quần H1 đang mặc là ma túy đá của H1, mua được trước đó cất giấu với mục đích nếu ai hỏi mua thì bán lại kiếm tiền lời, thì bị Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu P1, Trần Đức H1 và thu giữ tang vật.
* Tại bản kết luận giám định số 591 ngày 12/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng lần lượt là: M1=0,4001 gam; M2=1,6062 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
* Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Đức H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Hữu P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng thêm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P1 mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo bị cáo Trần Đức H1 mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung không áp dụng; Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các công cụ bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12 màu đen của Trần Đức H1; trả lại cho Nguyễn Hữu P1 01 điện thoại di động hiệu S màu đen.
*Các bị cáo Nguyễn Hữu P1, Trần Đức H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Nguyễn Hữu P1, Trần Đức H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng vụ án, kết luận giám định số 591 ngày 12/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng lần lượt là: M1=0,4001 gam; M2=1,6062 gam. Phù hợp với bản kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Do muốn có ma túy để sử dụng và bán lại kiếm tiền lời, ngày 06/06/2024 Trần Đức H1 gọi điện thoại qua zalo cho “M” (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 2.000.000đồng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy H1 trích một ít bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng một mình hết. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày Bùi Văn Đ nói với H1: “Đ mượn được tiền thì H1 bán cho Đ 500.000đồng ma túy”, H1 đồng ý. H1 trích một ít ma túy ra cân và bỏ vào gói nylon để bán cho Đ, số ma túy còn lại trong bọc nylon H1 cất giấu vào túi quần đang mặc. H1 đưa gói ma túy đã trích ra để bán cho Đ cho Nguyễn Hữu P1 giữ dùm và nói khi nào Đ đưa tiền thì H1 sẽ nói P1 đưa ma túy cho Đ. P1 cầm gói nylon chứa ma túy trong lòng bàn tay phải chờ giao cho Đ, nhưng Đ không mượn được tiền nên không mua ma túy. Đến 19 giờ cùng ngày lực lượng Công an kiểm tra hành chính, bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu P1 thu giữ 0,4001gam ma túy loại Methamphetamyne, bắt quả tang Trần Đức H1 thu giữ 1,6062gam ma túy loại Methamphetamyne. Tổng khối lượng là 2,0063 gam. Hành vi của Nguyễn Hữu P1, Trần Đức H1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3] Bị cáo Nguyễn Hữu P1 có 02 lần bị Tòa án xét xử, đã thi hành xong phần hình phạt tù nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ thi hành án về các khoản án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường thiệt hại nên chưa được xóa án tích. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm q, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét về lỗi, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu vụ lợi của bản thân các bị cáo đã cố tình thực hiện, đây là hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của công dân.
[5] Trong vụ án này có đồng phạm với tính chất giản đơn, cần phân tích vai trò của từng bị cáo để cá thể hoá hình phạt: Trần Đức H1 là chủ mưu, trực tiếp đi mua ma túy về mục đích sử dụng và chia ra bán cho người có nhu cầu mua; bị cáo đã trích ra một ít ma túy cân và bỏ vào gói nylon hàn kín lại sau đó đưa cho Nguyễn Hữu P1 và nói giữ dùm để khi nào Bùi Văn Đ đưa tiền thì P1 đưa ma túy cho Đ. Do vậy, số ma túy khi bị bắt quả tang thu giữ cần tính đối với bị cáo là tổng khối lượng 2,0063 gam. Bản thân bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích và nhân thân xấu, nay tiếp tục phạm tội nghiêm trọng hơn.
Đối với Nguyễn Hữu P1 là đồng phạm giúp sức cho Trần Đức H1, khi H1 nói rõ cho bị cáo biết việc H1 chuẩn bị bán ma túy cho Đ với số tiền 500.000 đồng và nhờ bị cáo cầm gói ma túy để giao cho Bùi Văn Đ thì bị cáo đồng ý. Bị cáo nhận thức rõ được đó là ma túy để bán (giao) cho Đ nhưng vẫn tiếp tay cho H1, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi đồng phạm giúp sức, số ma túy bắt quả tang thu giữ đối với bị cáo có khối lượng là 0,4001gam. Bản thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp: “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự
Căn cứ vào tính chất, mức độ, do hành vi và hậu quả các bị cáo gây ra cần xử phạt một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo P1 có cha là người có công với cách mạng (Huân chương chiến công) nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[6] Đối với các đối tượng sử dụng ma túy:
- - Ngày 03/06/2024 Bùi Văn Đ mua 200.000đồng ma túy; Phạm Khánh H mua 200.000đồng ma túy tại ngã ba B, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nguyễn Vũ K mua 200.000đồng ma túy tại ngã ba H, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Trần Ngọc L2 ngày 01/06/2024 mua 150.000 đồng ma túy tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Các đối tượng mua ma túy của những người không rõ nhân thân, lai lịch và đã sử dụng riêng lẻ một mình hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là đúng quy định, do vậy Hội đồng xét xử không xử lý.
- - Đối với Tí người bán ma túy cho Bùi Văn Đ và người đàn ông bán ma túy cho Phạm Khánh H, Nguyễn Vũ K, Trần Ngọc L2, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã tiến hành xác minh nhưng hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đỗ Văn T2 có mặt tại thời điểm cơ quan công an kiểm tra, bắt quả tang Trần Đức H1 và Nguyễn Hữu P1, nhưng không có vai trò đồng phạm trong vụ án, T2 không sử dụng ma túy nên không đặt ra vấn đề xử lý.
- - Bà Trương Thị L3 là chủ nhà trọ cho các bị cáo H1, P1 thuê ở nhưng bà L3 không biết việc H1 và P1 sử dụng, giấu và bán ma túy tại phòng trọ nên không đặt ra vấn đề xử lý.
- - Người có Zalo tên “M” là người đã bán ma túy cho Trần Đức H1 vào ngày 06/06/2024. Tại công văn số 465 Phòng PA05 Công an tỉnh B trả lời: Thông tin cá nhân của Z “M” mà Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ yêu cầu. Phòng PA05 không xác định được thông tin liên quan đến tài khoản trên. Hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch của M, chưa làm việc được nên không có có căn cứ để xử lý.
[7] Về vật chứng của vụ án:
- Số ma túy còn lại sau giám định và các công cụ bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy gồm:
- + 02 bì thư vụ số 591/2024 ngày 07/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B được niêm phong, đóng dấu giáp lai.
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm 01 bình thủy tinh, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh;
- + 01 hộp giấy màu đen; 01 cân điện tử màu bạc; 01 kéo bằng kim loại dài 16cm; 01 đoạn ống hút màu vàng sọc trắng nhọn một đầu dài 7,0cm; 01 quẹt ga màu trắng - đỏ;
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm 01 bình nhựa, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh; quẹt ga màu trắng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12 màu đen của Trần Đức H1 dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công;
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Nguyễn Hữu P1 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Nguyễn Hữu P1 và Trần Đức H1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- *Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt: Nguyễn Hữu P1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
- *Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt: Trần Đức H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 02 bì thư vụ số 591/2024 ngày 07/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B được niêm phong, đóng dấu giáp lai.
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm 01 bình thủy tinh, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh;
- + 01 hộp giấy màu đen; 01 cân điện tử màu bạc; 01 kéo bằng kim loại dài 16cm; 01 đoạn ống hút màu vàng sọc trắng nhọn một đầu dài 7,0cm; 01 quẹt ga màu trắng - đỏ;
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm 01 bình nhựa, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh; quẹt ga màu trắng.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12 màu đen của Trần Đức H1;
- - Trả lại cho Nguyễn Hữu P1 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002295, ngày 10/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Huệ |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
