TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 24/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Ông Păng Ting Nock
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án nhân dân
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên
toà: bà Hoàng Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST- HS ngày 19/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mùi Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày: 22/3/1997, tại Sơn La. Hộ khẩu thường trú: 01/2 T, thị trấn nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: đầu bếp; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Con ông Mùi Văn H1, sinh năm 1976 và bà Kim Thị H2, sinh năm 1977; có vợ Bùi Thị T (đã ly hôn); có con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không ; Bị bắt tạm giam ngày 24/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Chị Lê Thị Lệ T1, sinh năm 2002. Trú tại: 7 N, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Lữ Thị Kim A, sinh năm 2001. Trú tại: thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Lê Võ Như P, sinh năm 2002. Trú tại: D T, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mùi Văn H là bạn trại của Nguyễn Ngọc Tường V (nhân viên phục vụ tại quán K tại số E, B T, Phường B, TP B, Lâm Đồng). Ngày 22/11/2023, V xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về việc tranh giành khách với chị Lê Thị Lệ T1 là nhân viên làm cùng ở quán karaoke nên vào lúc 00h00' ngày 23/11/2023, V rủ H cùng đi lên Đ để chơi và tránh xảy ra đánh nhau với T1. Trước khi đi H có vào phòng trọ của V lấy một con dao (loại dao cắt thịt, đầu nhọn, dài khoảng 30cm). Khi đến thành phố Đ, V và H lưu trú tại Phòng 202, khách sạn S tại B đường P, Phường A, thành phố Đ.
Trong ngày 23/11/2023, T1 liên tục nhắn tin, gọi điện cho V nhiều lần thách thức và hẹn gặp V ở trước khách sạn S để giải quyết vụ việc. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T1 cùng Lê Võ Như P, Lữ Thị Kim A, Phạm Thị Thùy D và một số người bạn khác đến trước cửa khách sạn S 2 và T1 gọi điện thoại cho V xuống gặp nói chuyện. Khi nhận được điện thoại của T1 thì V cùng H đi xuống trước khách sạn để nói chuyện với T1, Kim A và P. Tại đây, T1 và V tiếp tục cãi nhau, T1 dùng tay tát vào mặt V 01 (một) cái. Thấy vậy, H bực tức nên lấy dao từ túi đeo chéo trước ngực ra cầm ở tay phải rồi đâm 01 phát trúng vào phần vai phải T1, 02 phát vào cẳng tay phải của Kim A, 02 phát vào vai trái, lưng trái của P gây thương tích. Sau đó, H dừng lại kéo V đi lên phòng 202 của khách sạn S, còn nhóm bạn đưa T1, Kim A và P đến Bệnh viện đa khoa tỉnh L để điều trị và trình báo Công an P1, thành phố Đ. Tại cơ quan Công an, Mùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 617/KLTTCT – PYLĐ của trung tâm pháp y tỉnh L ngày 30/11/2023, kết luận: Chị Lê Thị Lệ T1 bị 01 (một) vết thương rách da (phần mềm) ở bả vai bên phải, kích thước 02 cm, tỷ lệ thương tích của chị Lê Thị Lệ T1 là 6% (sáu phần trăm), tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 618/KLTTCT – PYLĐ của trung tâm pháp y tỉnh L ngày 30/11/2023, kết luận: Chị Lữ Thị Kim A bị 01 (một) vết thương mặt sau cẳng tay phải dài 10 cm, lộ gân cơ; 01 (một) vết thương mặt trước cẳng tay phải, gần nếp gấp khuỷu dài 1cm giám định pháp y về thương tích của chị Lữ Thị Kim A là 2% (hai phần trăm), tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 619/KLTTCT – PYLĐ của trung tâm pháp y tỉnh L ngày 30/11/2023, kết luận: Chị Lê Võ Như P bị 01 (một) vết thương rách da (phần mềm) ở vai trái, kích thước 1 cm và 01 (một) vết thương rách da (phần mềm) ở vai trái cách cột sống 10cm, kích thước 01, tỷ lệ thương tích của chị Lê Võ Như P là 2% (hai phần trăm), tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.
Chị Lê Thị Lệ T1, chị Lữ Thị Kim A và chị Lê Võ Như P có đơn yêu cầu khởi tố đối với Mùi Văn H.
Tại Bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Mùi Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Mùi Văn H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại đã bị gãy rời lưỡi dao và cán dao. Trong đó lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 10 cm, mũi dao nhọn, bản dao rộng 1,8 cm bị cong vênh; cán dao vỏ ngoài bằng kim loại màu trắng sáng bọc bên trong có một lớp nhựa màu đen dài 10,5 cm. Được đóng gói trong phong bì niêm phong số 2009444 ngày 23/11/2023, có chữ ký của Mùi Văn H, Dương Ngọc T2, Nguyễn Ngọc Tường V; 01 (một) áo khoác màu đen, tay áo màu trắng, áo bằng vải – da, tại phần tay áo bên phải có vết rách có đường kích 1,5 cm; 01 (một) áo khoác màu xanh, có chữ LOSEPHABBOUD, màu xanh, tại phần sau lưng áo có vết rách có đường kính 1,5 cm; 01 (một) áo thun màu đen, có chữ màu cam phía trước áo, tại phần lưng áo bên trái có 02 (hai) vết rách, mỗi vết có đường kính 1 cm. 03 (ba) áo trên được niêm phong trong bị ni lông màu đen có chữ ký của Trần Minh Tuấn Đ, Trần Nam Duy A1 và được đóng dấu treo của Công an P1 – TP Đ.
- - Tuyên trả lại cho bị cáo Mùi Văn H: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Mùi Văn H và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 không có sim điện thoại, màu xanh (đã qua sử dụng) được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của Dương Ngọc T2, Mùi Văn H.
Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phú ngày 23/11/2023, ở trước cửa khách sạn S tại B đường P, Phường A, Tp Đ, tỉnh Lâm Đồng, Mùi Văn H đã dùng dao đâm 01 nhát trúng vào phần vai phải chị Lê Thị Lệ T1, 02 nhát vào cẳng tay phải của chị Lữ Thị Kim A, và 02 nhát vào vai và lưng trái của chị Lê Võ Như P. Hậu quả, chị Lê Thị Lệ T1 bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 6%; chị Lữ Thị Kim A bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 2% và chị Lê Võ Như P bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 2%. Chị T1, chị A, chị P có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo H. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Mùi Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên cần áp dụng mức nghiêm, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ:
- [3.1] Tình tiết tăng nặng: không có
- [3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Vật chứng chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 19/3/2024 gồm:
01 (một) con dao bằng kim loại đã bị gãy rời lưỡi dao và cán dao. Trong đó lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 10 cm, mũi dao nhọn, bản dao rộng 1,8 cm bị cong vênh; cán dao vỏ ngoài bằng kim loại màu trắng sáng bọc bên trong có một lớp nhựa màu đen dài 10,5 cm. Được đóng gói trong phong bì niêm phong số 2009444 ngày 23/11/2023, có chữ ký của Mùi Văn H, Dương Ngọc T2, Nguyễn Ngọc Tường V; 01 (một) áo khoác màu đen, tay áo màu trắng, áo bằng vải – da, tại phần tay áo bên phải có vết rách có đường kích 1,5 cm; 01 (một) áo khoác màu xanh, có chữ LOSEPHABBOUD, màu xanh, tại phần sau lưng áo có vết rách có đường kính 1,5 cm; 01 (một) áo thun màu đen, có chữ màu cam phía trước áo, tại phần lưng áo bên trái có 02 (hai) vết rách, mỗi vết có đường kính 1 cm. 03 (ba) áo trên được niêm phong trong bị ni lông màu đen có chữ ký của Trần Minh Tuấn Đ, Trần Nam Duy A1 và được đóng dấu treo của Công an P1 – TP Đ. Là các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Mùi Văn H và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 không có sim điện thoại, màu xanh (đã qua sử dụng) được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của Dương Ngọc T2, Mùi Văn H là tài sản của bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Mùi Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
M (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại đã bị gãy rời lưỡi dao và cán dao. Trong đó lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 10 cm, mũi dao nhọn, bản dao rộng 1,8 cm bị cong vênh; cán dao vỏ ngoài bằng kim loại màu trắng sáng bọc bên trong có một lớp nhựa màu đen dài 10,5 cm. Được đóng gói trong phong bì niêm phong số 2009444 ngày 23/11/2023, có chữ ký của Mùi Văn H, Dương Ngọc T2, Nguyễn Ngọc Tường V; 01 (một) áo khoác màu đen, tay áo màu trắng, áo bằng vải – da, tại phần tay áo bên phải có vết rách có đường kích 1,5 cm; 01 (một) áo khoác màu xanh, có chữ LOSEPHABBOUD, màu xanh, tại phần sau lưng áo có vết rách có đường kính 1,5 cm; 01 (một) áo thun màu đen, có chữ màu cam phía trước áo, tại phần lưng áo bên trái có 02 (hai) vết rách, mỗi vết có đường kính 1 cm. 03 (ba) áo trên được niêm phong trong bị ni lông màu đen có chữ ký của Trần Minh Tuấn Đ, Trần Nam Duy A1 và được đóng dấu treo của Công an P1 – TP Đ.
- Trả lại cho bị cáo Mùi Văn H: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Mùi Văn H và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 không có sim điện thoại, màu xanh (đã qua sử dụng) được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của Dương Ngọc T2, Mùi Văn H.
(Tất cả vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 19/3/2024)
- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Vân Hồng |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Mùi Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích". 2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mùi Văn H (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023.
