Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 144/2024/HS-ST

Ngày 23/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ; ông Nguyễn Thế Sách.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Vân H, sinh năm 1996.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Khu phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Vân C, sinh năm 1963. Họ và tên mẹ: Đàm Thị S, sinh năm 1969. Gia đình có 03 chị, em, bị cáo là con thứ ba. Họ và tên vợ: Cầm Thị V, sinh năm 2000. Con: bị cáo có 01 con sinh năm 2022.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án số 39/2020/HSST ngày 04/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù vê tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS. Chấp hành xong án phí ngày 27/01/2021, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/01/2021.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

2. Nguyễn Đăng V1, sinh năm 1995.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1964 (đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1967. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án số 70/2017/HSST ngày 27/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong án phí ngày 20/6/2017, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 24/01/2018.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

3. Nguyễn Huy H1, sinh năm 2002.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Thôn A, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Văn V2, sinh năm 1968. Họ và tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm 1970. Gia đình có 02 anh, em bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

4. Vũ Văn T, sinh năm 1997.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Thôn K, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Vũ Văn T1, sinh năm 1975. Họ và tên mẹ: Phạm Thị V3, sinh năm 1977. Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Ông Nguyễn Kim S1 – Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

+ Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đăng V1, Vũ Văn T và Nguyễn Huy H1 là bạn bè quen biết và thường xuyên sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, Nguyễn Đăng V1, Vũ Văn T và Nguyễn Huy H1 đang ngồi chơi uống nước ở nhà Nguyễn Văn T2 ở Khu H, phường Đ, thành phố B cũng là bạn quen biết ngoài xã hội của V1, T, H1 thì nhóm V1, T, H1 có nhu cầu sử dụng ma túy nên V1 sử dụng tài khoản Zalo tên "V1 ken" nhắn tin gọi điện qua mạng xã hội Z cho tài khoản có tên “Tũn Bảnh” của H để hỏi mua 400.000đ tiền mà túy đá và 100.000đ tiền ma túy ngựa, H đồng ý và bảo V1 chuyển khoản số tiền mua ma túy vào tài khoản của H. Sau đó, V1 sử dụng tài khoản số 0351001214132 tại ngân hàng V4 của V1 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản 2019968683 tại ngân hàng T4 của H. V1 hẹn H: T và H1 sẽ đến lấy ma túy. Sau đó V1 bảo Hoàng và T điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen, BKS 99E1 - 665.04 của V1 đến khu vực trước cổng nhà trọ của H tại khu M, xã P, thị xã Q lấy ma túy về cùng sử dụng, T và H1 đồng ý. H1 điều khiển xe mô tô BKS 99E1 - 665.04 chở T đến trước cổng khu trọ của H thì H1 gọi điện qua ứng dụng M cho V1 nói đã đến khu trọ của H. Lúc này, V1 gọi điện thoại báo cho H biết H1 và T đã đến điểm hẹn. Sau đó, H cầm 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi nilong màu trắng có chứa chất tinh thể mầu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng đi ra ban công tầng 02 của phòng trọ thì thấy H1 và T đang đỗ xe dưới đường nên đã ném võ bao thuốc lá Thăng Long chứa ma túy xuống gần vị trí T đứng đợi. Biết là ma túy cần mua nên T đã đi đến gần nhặt vỏ bao thuốc lá bên trong chứa ma túy của H ném xuống đút vào túi áo bên phải đang mặc rồi lên xe mô tô H1 điều khiển đi về nhà T2 đón V1 đi tìm nơi sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ 10 phút, khi H1 chở T đi đến khu vực đường L, phường P, thị xã Q thì bị Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường P yêu cầu dừng xe kiểm tra. Do hoảng sợ nên T ném vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa ma túy vừa mua được của H lên khu vực lề đường cách vị trí đứng của T khoảng 02 mét. Sau đó, T tự nhặt và giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ma túy cho lực lượng Công an. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng:

- Thu giữ tại nền đường cách vị trí đứng của T 02 mét 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi nilong màu trắng có chứa chất tinh thể mầu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng do T tự nhặt giao nộp (được niêm phong trong phong bì thứ ký hiệu M).

- Tạm giữ của H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99E1 – 665.04 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng (gold) bị vỡ góc màn hình bên trái, số imei: 353290076314327; Tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng (gold), số Imei: 353318072710816.

Ngày 16/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiến hành triệu tập Nguyễn Đăng V1, sinh năm 1995, HKTT: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Vân H, sinh năm 1996, HKTT: Khu phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh lên làm việc. Tại cơ quan điều tra H và V1 đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của H và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của V1. H tự nguyện giao nộp 01 ĐTDĐ Iphone 12 Pro màu trắng, số Imei: 356680118931646 và số tiền 500.000 đồng; V1 giao nộp 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu gold.

Cùng ngày 16/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Vân H tại phòng trọ số 205 thuộc khu nhà trọ của anh Bùi Văn H2, sinh năm 1984, HKTT: Khu M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh thu giữ:

  • + Thu giữ tại gầm giường của phòng trọ 205: 01 túi nilong bên trong có 15 túi nilong, trong đó có 01 túi bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng; 04 túi bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng; 01 túi bên trong chứa 07 viên nén hình tròn màu hồng; 04 túi bên trong có các chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròng màu hồng; 04 túi chứa các chất tinh thể màu trắng và 01 túi chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong trong phong bì thứ ký hiệu M1.
  • + Thu giữ tại thảm dưới nền nhà trọ 205: 01 túi nilong bên trong chứa các chất tinh thể mầu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong trong phong bì thứ ký hiệu M2.
  • + Thu giữ tại trạn bát của phòng trọ 205: 01 cân tiểu ly.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, tại Bản kết luận giám định số 758/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • "+Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,2901 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + 01 viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,1114 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine
  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,3422 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine
  • + Các viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 2,4532 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine
  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,1090 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine
  • + 02 viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,2099 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine

Methamphetamine là chất ma túy quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiến hành sao kê giao dịch tại tài khoản số 0351001214132 tại ngân hàng V4 mang tên Nguyễn Đăng V1 có chuyển số tiền 500.000 đồng đến số tài khoản 2019968683 tại ngân hàng T4 mang tên Nguyễn Vân H vào ngày 16/3/2024.

Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Nguyễn Vân H, Nguyễn Đăng V1, Nguyễn Huy H1 và Vũ Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy H bán cho V1 và số ma túy bị thu giữ tại phòng trọ. Quá trình điều tra H khai mua của 01 người bạn ngoài xã hội (H chỉ biết tên là T3) vào sáng ngày 16/3/2024 tại khu vực cầu vượt Đ thuộc phường Đ, thành phố B với mục đích để bán kiếm tiền chênh lệch.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSQV ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Vân H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Đăng V1, Vũ Văn T và Nguyễn Huy H1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo H đã khai nhận vào sáng ngày 16/3/2024 tại khu vực cầu vượt Đ thuộc phường Đ, thành phố B, bị cáo mua ma tuý của một 01 người bạn ngoài xã hội tên là T3. Sau đó đến khoảng 20 giờ cùng ngày H bán số ma tuý trên cho V1, H1, T với giá 500.000 đồng. Bị cáo H đã thừa nhận hành vi của mình là có tội, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" là đúng. Đối với các bị cáo V1, H1, T cũng thừa nhận khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, do cả ba đều có nhu cầu sử dụng ma túy nên V1 liên lạc với H qua mạng xã hội zalo để hỏi mua 400.000đ tiền mà túy đá và 100.000đ tiền ma túy ngựa. Sau khi chuyển tiền thành công cho H thì H1 và T đến trước cổng khu trọ của H để lấy ma tuý. Đến khoảng 20 giờ 10 phút khi H1 chở T đi đến khu vực đường L, phường P, thị xã Q thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra. Do hoảng sợ nên T ném vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa ma túy vừa mua được của H lên khu vực lề đường

cách vị trí đứng của T khoảng 02 mét. Sau đó, T tự nhặt và giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ma túy cho lực lượng Công an. Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Vân H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Vân H từ 48 - 54 tháng tù.
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đăng V1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Đăng V1 từ 21 - 27 tháng tù.
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Huy H1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Huy H1 từ 18 - 24 tháng tù.
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Vũ Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Vũ Văn T từ 18 - 24 tháng tù.
  • - Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • - Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • + Sung công quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99E1 – 665.04; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu gold; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu gold bị vỡ góc màn hình bên trái, số imei: 353290076314327; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng, số Imei: 356680118931646; số tiền 500.000 đồng.
  • + Trả lại Vũ Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu gold, số Imei: 353318072710816 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 cân tiểu ly và mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của những người làm chứng, người liên quan cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, tại nhà của Nguyễn Văn T2 thuộc Khu H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Đăng V1, Vũ Văn T và Nguyễn Huy H1 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V1 đã liên hệ qua mạng xã hội Zalo đặt mua 500.000 đồng ma túy bằng hình thức chuyển khoản cho Nguyễn Vân H. Sau đó H1 điều khiển xe mô tô BKS 99E1 - 665.04 chở T đến khu phòng trọ của H tại khu M, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh lấy 0,4015 gam ma túy Methamphetamine của H bán cho V1 theo thỏa thuận trước đó. Sau khi lấy được ma túy H1 điều khiển xe mô tô chở T về đến khu vực đường L, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở tại phòng trọ của H còn tàng trữ 3,1143 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để bán kiếm lời. Do đó, V1, T và H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,4015 gam ma túy Methamphetamine; H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 3,5158 gam ma túy Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Vân H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đăng V1, Nguyễn Huy H1, Vũ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho con người, cộng đồng và cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy là

mầm mống của nhiều căn bệnh thế kỷ cũng như các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, do cả ba bị cáo V1, H1, T cùng có nhu cầu sử dụng ma tuý, nên bị cáo V1 đã liên lạc hỏi mua ma tuý và chuyển tiền (500.000 đồng) mua ma tuý từ tài khoản cá nhân của mình cho bị cáo H, tất cả số tiền mua ma tuý đều là tiền của V1. Sau khi chuyển tiền thành công, V1 đưa xe máy của mình cho H1 và T; bảo Hoàng và T đến khu vực trước cổng nhà trọ của H lấy ma túy về cùng sử dụng, T và H1 đồng ý. Tất cả liên lạc với H để mua ma tuý đều do V1 trực tiếp thực hiện. T và H1 là người trực tiếp đến gặp H lấy ma tuý dưới sự chỉ dẫn của V1. Do đó V1 có vai trò nhỉnh hơn H1 và T.

Quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo H và V1 sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2, Điều 51 BLHS và các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt các bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99E1 – 665.04; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu gold; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu gold bị vỡ góc màn hình bên trái, số imei: 353290076314327; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng, số I: 356680118931646 là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 500.000 đồng là tiền bị cáo H bán ma tuý mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu gold, số Imei: 353318072710816 là tài sản của bị cáo T, không sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T.
  • - Đối với 01 cân tiểu ly là công cụ, phương tiện phạm tội, nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Liên quan trong vụ án này còn có:

  • - Đối với anh Nguyễn Văn T2 đã để cho V1, T, H1 đến nhà chơi và bàn bạc mua ma túy về cùng sử dụng. Quá trình điều tra xác định anh T2 không biết việc V1, T, H1 bàn bạc mua ma túy về cùng sử dụng tại nhà anh T2 nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xử lý là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông tên T3 đã bán ma túy cho H. Quá trình điều tra H không biết địa chỉ của của T3 nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Đăng V1, Nguyễn Huy H1, Vũ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Vân H 48 (bốn tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Đăng V1 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Huy H1 18 (mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Vũ Văn T 18 (mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  • + Sung công quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99E1 – 665.04; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu gold; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu gold bị vỡ góc màn hình bên trái, số imei: 353290076314327; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng, số Imei: 356680118931646; số tiền 500.000 đồng.
  • + Trả lại Vũ Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu gold, số Imei: 353318072710816 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 cân tiểu ly và mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 116 ngày 28/6/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA, THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 144/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Vân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Đăng V, Nguyễn Huy H1, Vũ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger