Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 144/2024/DS-ST

Ngày: 21/8/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng, Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà – Thư ký TAND huyện Chương Mỹ.

Đại diện VKSND huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị L – Kiểm sát viên.

Ngày 21/8/2024, tại trụ sở TAND huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TLST-DS ngày 28/5/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ. Địa chỉ trụ sở: B12-HH 06 Đô thị V, Phường V, Quận L, TP Hà Nội. Người đại diện: Ông Phạm Hồng H – Chức vụ: Giám Đốc. Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H. Địa chỉ: B N, Quận A,TP. Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tuấn G - Chức vụ: Giám Đốc Trung tâm Xử lý nợ Miền B – Ngân hàng H4. Đại diện tham gia tố tụng: Ông Phạm Hải L1- chuyên viên xử lý nợ trung tâm XLN miền Bắc
  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Ngô Văn H1, sinh năm: 1988
    • 2.2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1990
    • Đăng ký KHTT tại: Thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Ngô Văn H2, sinh năm 1964
    • 3.2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964
    • Đăng ký KHTT tại: Thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội
    • Đại diện ủy quyền của bà B, bà T1 là ông Ngô Văn H2.

Tại phiên tòa có mặt ông L1, ông H2.

Ông Ngô Văn H1 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Trong đơn khởi kiện nộp tại Tòa án và quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

1. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ:

Ông Ngô Văn H1 và bà Nguyễn Thị B vay vốn tại H4 theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ như sau:

  • + Hợp đồng cấp tín dụng trung dài hạn số 0081/15/HĐTDTDH-CN/021 ngày 06/05/2015; Khế ước nhận nợ số 0081/15/HĐTDTDH-CN/021/KUNN-01 ngày 06/05/2015;
  • + Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng chẵn)
  • + Thời hạn vay: 240 tháng, từ ngày 06/05/2015 đến ngày 06/05/2035
  • + Mục đích sử dụng vốn: vay mua BĐS.
  • Lãi suất vay trong hạn: 03 tháng đầu tiên áp dụng lãi suất 11,5%/năm, từ tháng thứ 04 trở đi, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng /lần theo 11,5%/năm (sau 3 tháng LS13 +4,2%/năm).

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Ngô Văn H1 và bà Nguyễn Thị B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết với H4, cụ thể mới chỉ thanh toán được chỉ trả được số tiền là 1.271.459.420 đồng. Trong đó: Đã trả nợ gốc là: 418.750.000 đồng; lãi trong hạn là: 844.756.571 đồng; lãi quá hạn là: 2.737.900 đồng; lãi chậm trả lãi là: 5.175.699 đồng.

Ngày 29/9/2023 H4 đã bán toàn bộ khoản nợ của ông Ngô Văn H1 và bà Nguyễn Thị B cho công ty TNHH Đ theo hợp đông mua bán nợ số 248.09/2023/HĐMBN.

Tạm tính đến ngày 19/8/2024, dư nợ khoản vay của ông Ngô Văn H1 và bà Nguyễn Thị B tại Công ty TNHH Đ là 1.766.280.587 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.081.250.000 đồng; Lãi trong hạn là 430.555.261 đồng; Lãi quá hạn là 103.343.794 đồng. Lãi phạt chậm trả lãi là 151.131.532 đồng

2. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Tài sản đảm bảo của khoản vay là Toàn bộ quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 203; tờ bản đố số: 14; diện tích: 376m2; mục đích sử dụng đất ở + đất vườn; thời gian sử dụng 200m2 đất ở: lâu dài; 176m2 đất vườn: đến 8/2058; tại địa chỉ: thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội; theo GCNQSDĐ quyền sử dụng đất số AN 109001; số vào sổ cấp GCN: 01804, do UBND huyện C cấp ngày 29/08/2008 cho Hộ ông Ngô Văn H2, điều chỉnh chủ sử dụng đất từ Hộ ông Ngô Văn H2 thành ông Ngô Văn H2 ngày 09/09/2011. Chi tiết việc thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng số: 1049.2015/HĐTC ngày 27/04/2015 tại Văn phòng C giữa ông Ngô Văn H2, bà Nguyễn Thị T1 với Ngân hàng TMCP P. Được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05/05/2015 tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hà Nội.

Nguyên đơn khẳng định việc ký Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên là đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp ông H1, bà B không trả được nợ, đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp các bên đã ký kết để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông H1, bà B phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.

II. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Bị đơn thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP P để vay số tiền là 1.500.000.000 VNĐ. Mục đích vay tiền ngân hàng để sự dụng việc gia đình.

Sau khi vay vốn thì ông H1, bà B sử dụng vốn đúng mục đích và có trả được ngân hàng một phần nợ cụ thể: Đã trả nợ gốc là: 418.750.000 đồng; lãi trong hạn là: 844.756.571 đồng; lãi quá hạn là: 2.737.900 đồng; lãi chậm trả lãi là: 5.175.699 đồng. Ông H1, bà B trình bày nhiều năm nay công việc làm kinh tế gặp khó khăn, thu nhập giảm sút.

Bị đơn xác nhận còn nợ tại Công ty TNHH Đ theo hợp đồng tín dụng đã ký là 1.766.280.587 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.081.250.000 đồng; Lãi trong hạn là 430.555.261 đồng; Lãi quá hạn là 103.343.794 đồng. Lãi phạt chậm trả là 151.131.532 đồng

Bị đơn xác nhận để vay được số tiền trên tại ngân hàng thì sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất, ông H1, bà B đã ký kết: hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng số: 1049.2015/HĐTC ngày 27/04/2015 tại Văn phòng C.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 203; tờ bản đồ số: 14; diện tích: 376m2; mục đích sử dụng đất ở + đất vườn; thời gian sử dụng 200m2 đất ở: lâu dài; 176m2 đất vườn: đến 8/2058; tại địa chỉ: thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội; theo GCNQSDĐ quyền sử dụng đất số AN 109001; số vào sổ cấp GCN: 01804, do UBND huyện C cấp ngày 29/08/2008 cho Hộ ông Ngô Văn H2, điều chỉnh chủ sử dụng đất từ Hộ ông Ngô Văn H2 thành ông Ngô Văn H2 ngày 09/09/2011.

Sau đó thì anh H1 vi phạm pháp luật hình sự phải đi chấp hành án tại trại giam S, huyện B thành phố Hà Nội nên cho đến nay chưa trả hết nợ cho ngân hàng.

Quan điểm bị đơn đề nghị phía ngân hàng tạo điều kiện hỗ trợ cho gia đình. Vì hiện nay ông H1 đang chấp hành án, bà B đang nuôi con nhỏ và bố mẹ già, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Địa chỉ thửa đất thế chấp cũng là nơi ở duy nhất của gia đình. Do đó, tôi đề xuất trả nợ ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) mỗi tháng vào gốc đến khi anh H1 mãn hạn tù, trở về địa phương, thì sẽ tập trung làm kinh tế, thu xếp tất toán toàn bộ khoản nợ còn lại cho ngân hàng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông H2 trình bày ông là bố đẻ của ông Ngô Văn H1. vào năm 2015 con trai ông là Ngô Văn H1 cùng chị Nguyễn Thị B có nhu cầu vay vốn ngân hàng để làm ăn nên đã ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp để vay vốn tại ngân hàng TMCP phát triển thành phố H số tiền 1.500.000.000₫.

Để vay được vốn tại ngân hàng H4, nay là công ty TNHH Đ thì ông H2, bà T1 có ký kết hợp H3 thế chấp để thế chấp tài sản là thửa đất số 203 tờ bản đồ số 14 tại thôn N Xã N. huyện C thành phố Hà Nội đứng tên chủ sử dụng là hộ ông Ngô Văn H2 và bà Nguyễn Thị T1, đã thay đổi chủ sử dụng thành ông Ngô Văn H2 từ ngày 09/9/2011. Ông H2 xác nhận có ký kết hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông H1 và bà B tại ngân hàng.

Hiện nay ông Ngô Văn H1 đang đi chấp hành án tại trại giam S huyện B thành phố Hà Nội. Quan điểm của ông H2 và gia đình là Đề nghị nguyên đơn xem xét mọi điều kiện giãn nợ cho ông H1 bà B, cho gia đình được trả số tiền 10.000.000đ mỗi tháng vào gốc cho đến khi nào ông H1 trở về địa phương thì sẽ tập trung trả số nợ còn lại cho công ty.

Ông H2 xác định đầy đủ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sinh sống, cư trú trên thửa đất là ông H2, bà T1 bà B, cháu Ngô Anh T2, cháu Ngô Anh D là con ông H1 và bà B, ngoài ra không còn ai khác.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ thể hiện quan điểm:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án yêu cầu tham gia đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ;

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn:

  • - Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 19/8/2024 là 1.615.149.055 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.081.250.000 đồng; Lãi trong hạn là 430.555.261 đồng; Lãi quá hạn là 103.343.794 đồng.
  • Bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền lãi phạt chậm trả là 151.131.532 đồng
  • Bị đơn tiếp tục chịu lãi và lãi quá hạn đối với số tiền gốc còn nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ
  • - Xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành.
  • - Nguyên đơn, Bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Bị đơn là bà Nguyễn Thị B và ông Ngô Văn H1 hiện cư trú tại thôn N, xã N, huyện C, Hà Nội. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp thì Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực pháp luật nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết tranh chấp.

Tại phiên tòa, bị đơn là bà Nguyễn Thị B, và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt có ủy quyền cho ông Ngô Văn H2 tham gia tố tụng. Bị đơn ông Ngô Văn H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 BLTTDS, Hội đồng xét xử xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung.

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

2.1.1 Xét tính hiệu lực của các Hợp đồng tín dụng đã ký kết:

Xét Hợp đồng tín dụng số 0081/15/HĐTDTDH-CN/021 ngày 06/5/2015. Theo đó, số tiền ngân hàng cho ông H1, bà B vay tổng số tiền 1.500.000.000đồng. Nội dung của Hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định Hợp đồng tín dụng số 0081/15/HĐTDTDH-CN/021 ngày 06/5/2015 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của Hợp đồng tín dụng.

2.1.2. Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả toàn bộ gốc, lãi phát sinh của nguyên đơn:

Thực hiện các Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H đã giải ngân cho ông H1, bà B vay đủ số tiền 1.500.000.000 đồng, bị đơn xác nhận đã nhận đủ. Như vậy Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H đã thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng.

Đến nay ông H1, bà B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ theo các kỳ trả nợ quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết và vẫn chưa thanh toán hết khoản vay trên. Như vậy Ông H1, bà B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng.

Do khoản nợ được Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H, bán cho Công ty TNHH Đ. Do đó Công ty TNHH Đ khởi kiện đề nghị buộc ông H1, bà B phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc bị đơn phải trả phần lãi phạt chậm trả 151.131.532 đồng là không đúng quy định pháp luật. Bởi lẽ, căn cứ khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005, có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng quy định “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn...”. Căn cứ quy định này thì pháp luật không có quy định về lãi phạt. Đồng thời, đối chiếu các quy định khác của pháp luật như tại Quyết định số 1627/2001/NHNN, ngày 31/12/2001 của Ngân hàng N ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng, được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/NHNN, ngày 03/02/2005 có hiệu lực vào thời điểm các bên giao kết hợp đồng, thì chỉ quy định lãi của các tổ chức tín dụng với khách hàng chỉ bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn (Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn). Việc các bên thỏa thuận lãi phạt chậm trả phải đúng trên cơ sở quy định của pháp luật ( khoản 4 Điều 1 quyết định 127/2005). Ngân hàng tính lãi phạt là trái với quy định của Bộ luật dân sự. Ngoài ra tại nội dung bản án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 xác định “Các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm”.Nội dung án lệ cũng không cho phép được tính lãi phạt.

Do đó bác yêu cầu của công ty Đ về việc yêu cầu ông Ngô Văn H1 và bà Nguyễn Thị B phải trả số tiền phạt chậm trả lãi 151.131.532 đồng.

Theo đó, buộc ông H1, bà B phải có nghĩa vụ trả Công ty TNHH Đ toàn bộ số tiền còn nợ tính đến 19/8/2024 là: 1.615.149.055 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.081.250.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 430.555.261 đồng; nợ lãi quá hạn là 103.343.794 đồng.

Kể từ ngày 20/8/2024, ông H1, bà B phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của người khác, số công chứng: 1049.2015/HĐTC ngày 27/04/2015 tại Văn phòng C.

Theo đó, tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 203; tờ bản đồ số: 14; diện tích: 376m2; mục đích sử dụng đất ở + đất vườn; thời gian sử dụng 200m2 đất ở: lâu dài; 176m2 đất vườn: đến 8/2058; tại địa chỉ: thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội; theo GCNQSDĐ quyền sử dụng đất số AN 109001; số vào sổ cấp GCN: 01804, do UBND huyện C cấp ngày 29/08/2008 cho Hộ ông Ngô Văn H2, điều chỉnh chủ sử dụng đất từ Hộ ông Ngô Văn H2 thành ông Ngô Văn H2 ngày 09/09/2011.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp thì các bên không bị ai ép buộc và trực tiếp ký. Hội đồng xét xử xác định: Các bên khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.Theo đó thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy: Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp ông H1, bà B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH Đ có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 203; tờ bản đồ số: 14; diện tích: 376m2; mục đích sử dụng đất ở + đất vườn; thời gian sử dụng 200m2 đất ở: lâu dài; 176m2 đất vườn: đến 8/2058; tại địa chỉ: thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội; theo GCNQSDĐ quyền sử dụng đất số AN 109001; số vào sổ cấp GCN: 01804, do UBND huyện C cấp ngày 29/08/2008 cho Hộ ông Ngô Văn H2, điều chỉnh chủ sử dụng đất từ Hộ ông Ngô Văn H2 thành ông Ngô Văn H2 ngày 09/09/2011 để thu hồi khoản nợ.

[3] Về án phí:Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 thì:

  • - Ông H1, bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
  • - Công ty TNHH Đ phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều: 290,342, 343, 355, 471, 474, 476, 715, 721 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ khoản 7 Điều 113, Điều 130 Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ các Điều: 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai năm 2003; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ.

    Buộc ông Ngô Văn H1, Bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ toàn bộ số tiền còn nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết tính đến ngày 19/8/2024 là 1.766.280.587 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.081.250.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 430.555.261 đồng; Nợ lãi quá hạn là 103.343.794 đồng.

    Kể từ ngày 20/8/2024 ông Ngô Văn H1, Bà Nguyễn Thị B phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký.

  2. Bác yêu cầu của Công ty TNHH Đ về việc buộc ông Ngô Văn H1 và bà Nguyễn Thị B phải trả số tiền phạt chậm trả lãi là 151.131.532 đồng.
  3. Về xử lý tài sản thế chấp:

    3.1. Trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán xong khoản nợ thì Công ty TNHH Đ có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa đất số 203; tờ bản đố số: 14; diện tích: 376m2; mục đích sử dụng đất ở + đất vườn; thời gian sử dụng 200m2 đất ở: lâu dài; 176m2 đất vườn: đến 8/2058; tại địa chỉ: thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội; theo GCNQSDĐ quyền sử dụng đất số AN 109001; số vào sổ cấp GCN: 01804, do UBND huyện C cấp ngày 29/08/2008 cho Hộ ông Ngô Văn H2, điều chỉnh chủ sử dụng đất từ Hộ ông Ngô Văn H2 thành ông Ngô Văn H2 ngày 09/09/2011..

    3.2. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho ngân hàng đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

  4. Về án phí:

    4.1. Ông H1, bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 60.454.472 đồng.

    4.2. Công ty TNHH Đ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.556.577 đồng. Đối trừ vào số tiền 30.961.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0002102 ngày 29/5/2024. Trả lại công ty Đ số tiền 23.404.423 đồng

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - THA huyện Chương Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN

Nguyễn Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 144/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger