Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐĂK LĂK

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HS-ST

Ngày: 21/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Vĩnh Mai, bà Phạm Thị Tuyết Nhung

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 04 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/TLST-HS ngày 10/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Ngọc T; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 10 năm 2000; Tại: Đắk Lắk.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12

Con ông: Cao Xuân T1, sinh năm 1968 (đã chết), con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 16/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Đắk Lắk thời gian 18 tháng. Quyết định số 12/2021/QĐ-DS; ngày 30/01/2023 chấp hành xong biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Văn T2, sinh năm 1997. Trú tại: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
  2. Ông Nguyễn Quyết T3, sinh năm 1974. Trú tại: E P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
  3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Trú tại: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

Người chứng kiến:

  • Bà H Mluit M, sinh năm 1998. Trú tại: Số D N, Phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Ngọc T là người sử dụng ma túy Methamphetamine (còn gọi là ma túy đá), do không có nghề nghiệp ổn định nên mua ma túy về mục đích sử dụng và bán nhằm thu lợi bất chính. Chiều ngày 07/01/2024, một người nam giới dân tộc Ê đê (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến chỗ ở của T tại: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm nghìn đồng) thì T đồng ý bán số lượng “mười một số" (khoảng 1,1 gam ma túy đá). T nhận số tiền 1.500.000 đồng và hẹn người nam giới ngày 08/01/2024 đến lấy ma túy. Khoảng 15 giờ 07/01/2024, T sử dụng số điện thoại 0343.840.xxx gắn trong điện thoại Iphone màu xanh, gọi đến số 0942.142.387 của một nam giới có tên thường gọi là K (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma tuý đá với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) thì K đồng ý bán, hẹn giao ma tuý tại khu vực nhà thờ, đường N, phường T, thành phố B. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh, biển kiểm soát 47H1-837.59 đi đến điểm hẹn thì K đi xe mô tô Suzuki màu đỏ (chưa xác định được biên số) đến. K yêu cầu T chuyển tiền mua ma túy đến số tài khoản 0942142387, ngân hàng M1 mang tên “NGUYEN QUYET TRUONG” và giảm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho T. T sử dụng số tài khoản 1016908078 của Ngân hàng V, mang tên “ CAO NGỌC TU" chuyển số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám tăm nghìn đồng) đến số tài khoản nêu trên cho K thì K bán 01 (một) gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào trong người rồi đi về, mục đích bán một phần cho người nam giới dân tộc Ê đê nêu trên, phần còn lại thì sử dụng và bán lại cho người khác thu lợi bất chính. Tại chỗ ở: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, T lấy một phần ma túy đá ra sử dụng, thì thấy chất lượng ma túy không được đảm bảo nên gọi điện thoại cho K để đổi ma túy khác thì K đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 8/01/2024, T một mình điều khiển xe mô tô Honda, biển kiểm soát 47 H1-837.59 đi đến thành phố B để gặp K đổi ma túy. Khi T đi đến khu vực cây xăng T6, địa chỉ: B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị phòng CSĐTTP về ma túy, Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang T về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, tạm giữ, niêm phong vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Ngọc T, địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án

Kết quả xét nghiệm chất ma túy xác định: Cao Ngọc T dương tính với chất ma túy loại Amphetamin/Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,6823 gam, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 4,6102 gam và và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại Bản kết luận giám định số 238/KL -KTHS ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA có số khung: RLHJA3933PY053822: không thay đổi; số máy: JA70E-0071713: Không thay đổi; Biển số: 47H1-837.59: Biển số thật.

Các đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave có số khung: RLHJA3933PY053822; số máy JA70E0071713 kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô chủ xe Cao Văn T2, biển số 47H1-837.59.
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone, có số Imei: 352851110693959 kèm theo sim số 0343.840.274.

Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKSTP. Buôn Ma Thuột ngày 23/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Cao Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Ngọc T từ 05 năm đến 06 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 4,6102gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi số: 135/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2024, bên ngoài ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Cao Ngọc T” có các chữ ký ghi tên: Hà Minh H2, Nguyễn Bá H3 và đóng dấu tròn màu đỏ của phòng K1 Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhẫn hiệu Iphone, có số Imei: 352851110693959 kèm theo sim số 0343.840.274 của bị cáo Cao Ngọc T sử dụng vào hành vi phạm tội.

- Truy thu của bị cáo Cao Ngọc T số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh, loại xe Wave có sốkhung: RLHJA3933PY053822; số máy JA70E0071713. Qúa trình điều tra xác định: xe mô tô Honda wave, màu xanh, số khung RLHJA3933PY053822, số máy JA70E0071713, biển kiểm soát 47 H1-837.59 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị H (mẹ của bị cáo T), sinh năm: 1974; nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Tháng 09/2023, bà H mua chiếc xe nêu trên nhưng để anh Cao Văn T4 (con bà H), sinh năm: 1997, nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đứng tên đăng ký sở hữu. Ngày 07/01/2024 và ngày 08/01/2024, bà H cho bị cáo T mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại nhưng không biết bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng số 1571 ngày 10/4/2024 trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu xanh nêu trên và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Cao Văn T2 cho bà Nguyễn Thị H là phù hợp.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét lời khai của bị cáo Cao Ngọc T là phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

HĐXX thấy rằng đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/01/2024, tại địa bàn thành phố B, Cao Ngọc T có hành vi mua, cất giấu 01 (một) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 4,6823 gam với giá 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) nhằm mục đích để bán. Trong đó, T đã thỏa thuận bán khoảng 1,1 gam ma túy loại Methamphetamine cho người khác thu lợi bất chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Đến ngày 08/01/2024, tại khu vực cây xăng T6, địa chỉ: B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, T có hành vi cất giấu 4,6823 gam ma túy Methamphetamin nêu trên, nhằm mục đích để bán thì bị Phòng CSĐTTP về ma túy, Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang và tạm giữ vật chứng theo quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo Cao Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

[3] Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Cao Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước đối với chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV – AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ khả năng nhận thức và buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, tham lam tư lợi mà bị cáo Cao Ngọc T đã thực hiện việc mua 4,6823 gam ma tuý và bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo Cao Ngọc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Cao Ngọc T, Công an thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Đối với nguồn gốc số ma túy trong vụ án, bị cáo Cao Ngọc T khai nhận mua của đối tượng nam giới có tên thường gọi là K sử dụng số điện thoại 0942.142.xxx và số tài khoản 0942142387, ngân hàng M1 mang tên "NGUYEN QUYET TRUONG”; người nam giới dân tộc Ê đê mua ma túy của bị cáo T. Quá trình điều tra xác định tài khoản ngân hàng số 0942142387 do người tên Nguyễn Quyết T3, sinh năm: 1987, nơi cư trú: Phạm Hồng T5, T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh T3 khai nhận: Số tài khoản nêu trên T3 không sử dụng và đã bị mất, hiện không biết ai quản lý, sử dụng. Đồng thời, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B có Công văn đề nghị Tập đoàn B - V1 (Vinaphone) xác minh số điện thoại 0942.142.xxx nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời, chưa xác định nhân thân, lai lịch của các đôi tượng này. Công văn số 473/YC-MT ngày 16/01/2024 đề nghị Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh Đ1 cung cấp nhân thân, lai lịch và các tài liệu thể hiện người đăng ký chủ sở hữu tài khoản số [...] và các tài liệu bảng kê chi tiết các giao dịch của tài khoản 920081982 nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời, chưa xác định nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách các hành vi này ra khỏi vụ án tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với lần bị cáo T mua ma túy trước để sử dụng, bị cáo khai đã sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ xử lý bị cáo về hành vi này, đồng thời tách ra khỏi vụ án tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị H (mẹ bị cáo T) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô Honda wave, biển kiểm soát 47H1-837.59 và căn nhà tại: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Việc T sử dụng chiếc xe trên thực hiện hành vi phạm tội và cất giấu, mua bán ma túy tại địa điểm trên thì bà H không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với bà H.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 4,6102gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi số: 135/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2024, bên ngoài ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Cao Ngọc T” có các chữ ký ghi tên: Hà Minh H2, Nguyễn Bá H3 và đóng dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh Đ.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhẫn hiệu Iphone, có số Imei: 352851110693959 kèm theo sim số 0343.840.274 của bị cáo Cao Ngọc T sử dụng vào hành vi phạm tội.
  • - Truy thu của bị cáo Cao Ngọc T số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xanh, loại xe Wave có sốkhung: RLHJA3933PY053822; số máy JA70E0071713. Qúa trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị H (mẹ của bị cáo T), bà H cho bị cáo T mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại nhưng không biết bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng số 1571 ngày 10/4/2024 trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu xanh nêu trên và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Cao Văn T2 cho bà Nguyễn Thị H là phù hợp.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo Cao Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Cao Ngọc T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/01/2024.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 4,6102gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi số: 135/KL-KTHS ngày 15/01/2024, bên ngoài ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Cao Ngọc T” có các chữ ký ghi tên Hà Minh H2, Nguyễn Bá H3 và đóng dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh Đ.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0343.840.xxx, số I: 352851110693959 (không kiểm tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, bị khoá mạng nên không kiểm tra số sim)
  • - Truy thu của bị cáo Cao Ngọc T số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) sung công quỹ nhà nước.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột, ngày 03/05/2024)

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh; TANDTC;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện; tỉnh;
  • - CA huyện;
  • - THAHS; THADS;
  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Đôn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 144/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Ngọc T bị xét xử 05 năm 06 tháng tù.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger