|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 144/2025/DS-PT
Ngày: 20-3-2025.
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
- Ông Hà Chí Quốc.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà:
Bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 531/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 212/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Căn cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXX-PT ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 23/2025/QĐ-PT ngày 07-3-2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trình Thị H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ H, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Cụ Lê Thị C, sinh năm 1943; nơi cư trú: Tổ H, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trình Văn P, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ A, Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn Â, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số A, Hẻm C, đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền; văn bản ủy quyền ngày 14-8-2023; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông P: Ông Huỳnh Văn Â, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số A, Hẻm C, đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền; văn bản ủy quyền ngày 14-12-2023; có mặt.
- Bà Trình Thị P1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Trình Thị L, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Trình Thị T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ H, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Trình Thị M, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Ông Trình Văn M1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Trình Thị Thùy D, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C, Đường C, Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Trình Thị Cẩm H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Ông Lương Văn K, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số E, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Chị Lương Thị B, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số E, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Chị Lương Thị Thạch T1, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số E, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người giám hộ của chị Lương Thị Thạch T1: Chị Lương Thị B, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số E, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; theo Quyết định số 01/2023/QĐST-DS ngày 14-02-2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ H, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Công ty Cổ phần T5; trụ sở: Số A, Đường T, phường T, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T2 – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Điền Hồ Phước T3, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số A, đường số C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; văn bản ủy quyền ngày 26-02-2024); có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo:
- Bà Trình Thị H là nguyên đơn.
- Cụ Trình Thị C1 là bị đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trình Văn P, bà Trình Thị L, bà Trình Thị M, ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Thùy D, bà Trình Thị Cẩm H1, ông Lương Văn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 13 tháng 10 năm 2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 05 tháng 4 năm 2024 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Trình Thị H và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ bà Trình Thị H là cụ Trình Văn L1 (chết ngày 07-8-1991) và cụ Lê Thị C có 10 người con gồm: Trình Thị N (chết năm 2020, có chồng là ông Lương Văn K và 02 con là Lương Thị B, Lương Thị Thạch T1), Trình Văn P, Trình Thị P1, Trình Thị H, Trình Thị L, Trình Thị M, Trình Thị T, Trình Văn M1, Trình Thị Thùy D, Trình Thị Cẩm H1; không có con riêng, con nuôi.
Năm 1973 cha mẹ bà Hiền từ Campuchia về Việt Nam sinh sống tại khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chung sống cha mẹ tạo lập và được chính quyền cách mạng cấp diện tích đất trên 10.000 m², không có giấy tờ giao đất; khi cụ L1 chết, cụ C tiếp tục quản lý sử dụng.
Năm 1993, cụ C kê khai đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7.000 m², phần diện tích còn lại chưa được cấp giấy đất.
Cụ L1 chết không để lại di chúc, nay bà H yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L1 để lại là ½ tài sản chung của cụ L1 và cụ C theo pháp luật thành 11 kỷ phần và được hưởng bằng hiện vật, cụ thể là các quyền sử dụng toạ lạc tại khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:
- Thửa số 294, tờ bản đồ số 20, diện tích 2301,9 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là giấy chứng nhận) do cụ Lê Thị C đứng tên; tài sản trên đất: 01 biệt thự và các công trình phụ của cụ C và 1 phần diện tích đất đang cho Công ty T5 thuê, không tranh chấp.
- Thửa số 37, tờ bản đồ số 19, diện tích 5.538,1 m², giấy chứng nhận do cụ Lê Thị C đứng tên; tài sản trên đất: trồng dừa và chuối, không tranh chấp.
- Thửa số 107, tờ bản đồ số 25, diện tích 491.3 m² (thửa cũ là 296, tờ bản đồ số 20, diện tích 484,4 m²), giấy chứng nhận do bà Trình Thị T đứng tên; tài sản trên đất có 1 phần nhà nuôi yến và 1 phần mái che của bà T, không tranh chấp.
- Thửa số 31, tờ bản đồ số 19 và thửa số 140 tờ bản đồ số 20 diện tích 1.475 m²; chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay cụ C và vợ chồng bà T đang sử dụng đất; tài sản trên đất: Phần diện tích nhà nuôi yến của bà T, không tranh chấp.
Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu chia thừa kế một nửa của tổng diện tích đất là 9,312m². Sau đó, bà khởi kiện bổ sung, yêu cầu chia thừa kế một nửa của
tổng diện tích 9.803,3 m². Yêu cầu chia bằng hiện vật cho bà H và ông P. Bà H chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản là các quyền sử dụng đất, không yêu cầu chia thừa kế bằng giá trị đối với nhà ở, công trình và cây trồng trên đất, ai được chia quyền sử dụng đất thì sẽ được quản lý, sử dụng tài sản trên đất. Bà H không yêu cầu chia lợi nhuận từ việc cho thuê mặt bằng Bách Hóa X, xác định ông L1 không phải thực hiện nghĩa vụ với ai.
Đối với tiền chi phí đo đạc 2.000.000 đồng bà H tự nguyện chịu. Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 5.000.000 đồng yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Bà H xác định chữ ký trong Biên bản hợp gia đình ngày 10-4-2008 mà chị T cung cấp không phải của bà, cũng như không có việc họp mặt gia đình nói trên.
Bị đơn cụ Lê Thị C trình bày:
Cụ và cụ Trình Văn L1 là vợ chồng; chung sống với nhau có 10 người con: Trình Thị H, Trình Thị T, Trình Thị N, Trình Văn P, Trình Thị P1, Trình Thị M, Trình Thị Cẩm H1, Trình Thị L, Trình Văn M1, Trình Thị Thùy D. Năm 1991, cụ L1 chết, không để lại di chúc, tài sản. Phần đất diện tích 7.000 m² cụ đang quản lý sử dụng có nguồn gốc do gia đình khai phá năm 1974, đến năm 1993, cụ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng cho đến nay, đây là tài sản riêng của cụ; không đồng ý theo yêu cầu của bà Trình Thị H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trình Văn P và người đại diện hợp pháp trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà H về quan hệ nhân thân trong gia đình và yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trình Thị P1 trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà H về quan hệ nhân thân trong gia đình. Cha mẹ bà có phần đất diện tích đất 9,312 m² nên bà yêu cầu chia ½ diện tích đất là phần di sản của cha để lại có diện tích 4,656 m² đem chia cho mẹ bà hưởng 01 kỷ phần và 10 người con mỗi người 01 kỷ phần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trình Thị L trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà H về quan hệ nhân thân trong gia đình và yêu cầu khởi kiện của bà H. Bà xác định tài sản chung của cha mẹ: Thửa 294, tờ bản đồ số 20 diện tích 2.332 m²; thửa 37, tờ bản đồ số 19 diện tích 5.505 m²; thửa 107, tờ bản đồ số 25 (thửa cũ là 296) diện tích 491.3 m²; thửa 31 tờ bản đồ số 19 và thửa 140 tờ bản đồ số 20 diện tích 1.475 m² .Nguồn đất đất là do cha mẹ khai phá và được nhà nước thời điểm đó xác định là đất cha mẹ. Cha bà mất không để lại di chúc, không có nghĩa vụ phải thực hiện với ai, hiện tài sản do mẹ bà sử dụng phần có biệt thự, còn bà T sử dụng phần còn lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trình Thị M trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà H về quan hệ nhân thân trong gia đình. Do còn nhỏ nên bà chỉ nghe nói nguồn gốc đất là do cha mẹ khai phá từ năm 1973, sau này mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình thay đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà không biết. Bà có gia đình riêng nên không biết cha để lại những di sản nào. Bà có gia đình riêng nên không biết cha để lại những di sản nào, bà chỉ biết phần tài sản bà H yêu cầu chia gồm: thửa đất số 37, tờ bản đồ số 19; thửa đất số 31, tờ bản đồ số 19; thửa số 140, tờ bản đồ số 20; Thửa đất số 294, tờ bản đồ số 20; thửa đất số 296, tờ bản đồ số 20. Nay bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, bà được nhận một phần thừa kế di sản của cha để lại bằng diện tích đất được chia.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Cẩm H1 trình bày nội dung giống theo lời trình bày của bà Trình Thị M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trình Thị Thùy D trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà H về quan hệ nhân thân trong gia đình và yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Văn K trình bày:
Ông là chồng của bà Trình Thị N, bà N mất cách đây khoảng 3 năm, vợ chồng chung sống có 02 người con là Lương Thị B và Lương Thị Bích T4, ngoài ra không có con nuôi hay con riêng gì khác. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị H thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, ông không có ý kiến. Các nội dung khác trong vụ án ông cũng không có ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lương Thị B trình bày:
Cha mẹ chị là bà Trình Thị N và ông Lương Văn K, ông bà chung sống với nhau có 02 người con là chị và em gái tên Lương Thị Thạch T1. Em gái chị bị mất năng lực hành vi dân sự nên chị là người giám hộ của theo quyết định của Tòa án. Ông bà ngoại chị là cụ C, cụ L1 chưa phân chia tài sản cho mẹ chị. Nay chị yêu cầu được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật.
Công ty Cổ phần T5 (sau đây viết tắt là Công ty) trình bày:
Ngày 17-04-2019, Công ty và bà Lê Thị C có ký kết Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 500, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD, do Văn phòng C2 chứng nhận ("Hợp Đồng Thuê”) liên quan đến giao dịch thuê 270 m² nhà đất tại thửa đất số 294, tờ bản đồ số 20, toạ lạc thị trấn T, huyện T, Tỉnh Tây Ninh (“Mặt Bằng Thuê”). Tại thời điểm ký công chứng Hợp Đồng Thuê, bà C có cung cấp cho Bách Hóa X bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 02389, do UBND huyện T cấp ngày 12/8/2014 cho bà Lê Thị C.
Giá thuê là 45.000.000 đồng/ tháng, thời hạn thuê 10 năm, Công ty đã thanh toán tiền thuê đất đến hết ngày 30-6-2024 cho bà C. Ngày 15-5-2019 bà C bàn giao mặt bằng thì Bách Hóa X cũng bắt đầu đầu tư rất nhiều chi phí để tiến
hành cải tạo, sửa chữa mặt bằng thuê. Tổng chi phí Bách Hóa X đã bỏ ra để cải tạo, sửa chữa là 2.438.504.876 đồng và hoạt động cho đến nay.
Về nội dung tranh chấp thừa kế Công ty không có ý kiến, Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xem xét để Công ty có thể tiếp tục thuê mặt bằng kinh doanh. Đối với hợp đồng thuê giữa Công ty và bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án, nếu quyền lợi của Công ty bị ảnh hưởng sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trình Thị T, ông Nguyễn Hoàng S không đến Tòa án, không có ý kiến trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 212/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; quyết định:
Căn cứ vào Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 184, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 149, Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự 2015; Điều 45 Luật Đất đai 2024; Điểm a, tiểu mục 1.3, mục 1, chương II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị H đối với bà Lê Thị C về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
- Bà C có trách nhiệm thanh toán cho ông Trình Văn P, bà Trình Thị P1, bà Trình Thị H, bà Trình Thị L, bà Trình Thị M, ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Thùy D, bà Trình Thị Cẩm H1 mỗi người số tiền 1.945.226.864 đồng (một tỷ chín trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
- Bà C có trách nhiệm thanh toán cho ông Lương Văn K, chị Lương Thị B, chị Lương Thị Thạch T1 số tiền: 1.945.226.864 đồng (một tỷ chín trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
- Bà C có trách nhiệm thanh toán cho bà Trình Thị T số tiền 1.545.800.864 đồng (một tỷ năm trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
1.2 Chia giá trị:
Bà Lê Thị C, ông Trình Văn P, bà Trình Thị P1, bà Trình Thị H, bà Trình Thị L, bà Trình Thị M, bà Trình Thị T, ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Thùy D, bà Trình Thị Cẩm H1 mỗi người được chia thừa kế số tiền 1.945.226.864 đồng (một tỷ chín trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
Ông Lương Văn K, chị Lương Thị B, chị Lương Thị Thạch T1 được chia thừa kế số tiền 1.945.226.864 đồng (một tỷ chín trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
1.3 Chia hiện vật:
1.3.1 Bà Lê Thị C được thừa kế các quyền sử dụng đất sau:
- Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 19, diện tích đo đạc thực tế là 5.505 m² (diện tích theo giấy chứng nhận QSDĐ: 5.538,1 m²), đất tại Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh tây Ninh, nằm trong giấy CNQSDĐ số CH46249 do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Lê Thị C ngày 07/9/2012. Đất trị giá 4.475.565.000 đồng, có tứ cận:
Đông giáp thửa 294 tờ bản đồ số 20 (thửa mới số 44 tờ bản đồ 25) và thửa 107 tờ bản đồ số 25;
Tây giáp thửa 30 tờ bản đồ số 19;
Nam giáp thửa 41, 42, 48, 49 tờ bản đồ số 19;
Bắc giáp thửa 23, 24, 25, 27 tờ bản đồ số 19 và thửa 93, tờ bản đồ số 25.
(Có sơ đồ kèm theo).
Bà C được quyền sử dụng tài sản trên đất.
- Thửa số 294, tờ bản đồ số 20, diện tích đo đạc thực tế là 2.332 m² (diện tích theo giấy chứng nhận QSDĐ: 2.301,9 m²), đất tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, nằm trong giấy CNQSDĐ số CH02389 do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cho bà Lê Thị C đứng tên ngày 12/8/2014. Đất trị giá 37.920.000.000 đồng, có tứ cận:
Đông giáp thửa 162 tờ bản đồ số 20 (thửa mới số 52 tờ bản đồ số 25); giáp đường T;
Tây giáp thửa 37 tờ bản đồ số 19 (thửa mới số 44 tờ bản đồ số 25);
Nam giáp thửa 49, 50 tờ bản đồ số 19;
Bắc giáp thửa thửa 37 tờ bản đồ số 19 (thửa mới số 44 tờ bản đồ số 25); thửa 107 tờ bản đồ số 25; thửa 297 tờ bản đồ số 20 (thửa mới số 94 tờ bản đồ số 25); thửa 161 tờ bản đồ số 20 (thửa mới số 51 tờ bản đồ số 25).
(Có sơ đồ kèm theo).
Bà C được quyền sử dụng các tài sản trên đất gồm: nhà cấp 4, nhà tạm, mái che, nhà mát, hòn non bộ, hàng rào song sắt.
1.3.2 Bà Trình Thị T được thừa kế thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25, diện tích 491,3 m² đất tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, nằm trong giấy CNQSDĐ số CS01047 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho Trình Thị T đứng tên ngày 05/6/2015. Đất trị giá 399.426.000 đồng, có tứ cận:
Đông giáp thửa 297 tờ bản đồ số 20 (thửa mới số 94 tờ bản đồ 25);
Tây giáp thửa 93 tờ bản đồ số 25 và thửa 37 tờ bản đồ số 19 (thửa mới số 44 tờ bản đồ số 25);
Nam giáp thửa 294 tờ bản đồ số 20 (thửa mới số 44 tờ bản đồ 25);
Bắc giáp thửa 93 tờ bản đồ số 25.
(Có sơ đồ kèm theo).
Bà T được quyền sử dụng các tài sản trên đất.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
1.4 Thanh toán chênh lệch: bà C có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho những người thừa kế sau:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị H đối với bà Lê Thị C về việc chia di sản thừa kế của thửa số 31, tờ bản đồ số 19 và thửa đất số 140 tờ bản đồ số 20 (theo bản đồ địa chính đo năm 2013 thuộc thửa 93, tờ bản đồ số 25), diện tích đo đạc thực tế 1.475 m², đất tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 17/4/2019 giữa bà Lê Thị C và Công ty Cổ phần T5: do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
- Ngày 25-9-2024 bà Trình Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật.
- Ngày 25-9-2024 ông Trình Văn P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị H, hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật.
- Ngày 07-10-2024 cụ Trình Thị C1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, theo hướng áp dụng thời hiệu khởi kiện, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị H.
- Ngày 07-10-2024 bà Trình Thị L, bà Trình Thị M, ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Thùy D, bà Trình Thị Cẩm H1, ông Lương Văn K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị H, hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Ông Huỳnh Văn  là người đại diện theo uỷ quyền của bà Trình Thị H, ông Trình Văn P trình bày ý kiến, với nội dung: Giữ nguyên nội dung kháng cáo
của bà H, của ông P; yêu cầu chia thừa kế toàn bộ quyền sử dụng đất và được hưởng bằng hiện vật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Cấp sơ thẩm xác định diện tích đất 1.475 m² không phải là di sản là không đúng theo quy định của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Căn cứ Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024, Quyết định số 49 ngày 15-10-2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T thì đủ điều kiện để tách thửa và nhận hiện vật. Đơn kháng cáo của bị đơn đề nghị áp dụng thời hiệu là không có căn cứ theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Dân sư, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Trình Thị M, ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Thùy D, bà Trình Thị Cẩm H1 trình bày ý kiến, cùng với nội dung: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; việc cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế cho bà T là không đúng vì bà đã ghi là không lấy bất cứ tài sản gì.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của những người kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt, Toà án xét xử vắng mặt các đương sự này.
- [3] Ngày 13-10-2023 bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với các thửa đất số 294, tờ bản đồ số 20; thửa số 37, tờ bản đồ số 19; thửa số 296, tờ bản đồ số 20; ngày 05-4-2024 nộp khởi kiện bổ sung yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 19 và thửa số 140 tờ bản đồ số 20; cùng toạ lạc tại khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh tây Ninh.
- [3] Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo quy định tại Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật Dân sự
này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết;
d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.”
Ảnh chụp bia mộ ghi cụ Trình Văn L1 chết ngày 07-8-1991 (nhằm ngày 27-6-1991 Âm lịch), đều được các người con và cụ C1 xác định; năm 2005 mới đi đăng ký khai tử, ghi nhầm thành cụ L1 mất ngày 27-6-1993; ngày 13-10-2023 bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là đã quá thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “3. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.”
Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử và giải quyết vụ án là không phù hợp với với quy định tại Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đã hết thời hiệu khởi kiện nên Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
- Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án nên người kháng cáo: Bà Trình Thị H, ông Trình Văn P, bà Trình Thị L, bà Trình Thị M, ông Trình Văn M1, bà Trình Thị Thùy D, bà Trình Thị Cẩm H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 217, khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số: 212/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh và đình chỉ giải quyết vụ án.
- Chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm: Bà Trình Thị H phải chịu 7.000.000 (bảy triệu) đồng và đã thực hiện xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.500.000 (mười bốn triệu năm trăm ngàn) đồng tại các Biên lai thu số 0008681 ngày 13-10-2023 và số 0006065 ngày 05-4-2024.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Thị H số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006601 ngày 26-9-2024.
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông Trình Văn P số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006600 ngày 26-9-2024.
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Thị L số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006660 ngày 08-10-2024.
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Thị M số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006659 ngày 08-10-2024.
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Văn M1 số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006669 ngày 08-10-2024.
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Thị Thùy D số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006668 ngày 08-10-2024.
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Trình Thị Cẩm H1 số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0006661 ngày 08-10-2024.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Tòng |
Bản án số 144/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 144/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa bà Trình Thị H và bà Lê Thị C
