|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội Thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Trúc Hoa
Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 151/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà 67/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Mạc Thăng L, sinh ngày 21 tháng 04 năm 1977 tại Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: K, chợ C, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn N và bà Phạm Thị T; có vợ là Lê Thị V và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/7/2024; có mặt.
Bị hại: Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1964, nơi cư trú: Thôn A, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại.
- Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số E A, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Vũ Thị T3, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Vũ Thị H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Văn T2, chị Vũ Thị H, chị Vũ Thị T3: Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 19/4/2024, Mạc Thăng L điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 36C - 323.16 tham gia giao thông trên đường P, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng theo hướng từ ngã 5 K đi ngã 4 Cống Đôi (trên xe không có hàng hóa). Khi đến khu vực trước số nhà A đường P, do phát hiện đi nhầm đường nên L điều khiển xe ô tô quay đầu về hướng ngã 5 K. Do không chú ý quan sát nên xe ô tô do L điều khiển đã đâm vào xe đạp do bà Bùi Thị T1, sinh năm 1964, nơi cư trú: thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng điều khiển đang di chuyển ở hướng ngược chiều từ cầu K đi ngã 5 K. Vị trí va chạm tại phần đường dành cho xe thô sơ. L đã đưa bà T1 đi cấp cứu tại Bệnh viện K. Sau đó bà T1 đã tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 112/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 06/5/2024 của Trung tâm P kết luận về nguyên nhân chết của bà Bùi Thị T1: “Nạn nhân bị chấn thương ngực gây gãy vỡ phức tạp xương lồng ngực hai bên. Nạn nhân Bùi Thị T1 sinh năm 1964 chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do chấn thương ngực nặng”.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường cong trước nhà số A đường P, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Đường Phan Đăng L1 được trải nhựa bằng phẳng rộng 15m, được tổ chức giao thông đường hai chiều có vạch kẻ đường màu vàng không liên tục ở giữa đường để phân chia chiều đường thành hai chiều xe chạy, hai bên có vỉa hè rộng 05m. Trên hiện trường để lại các dấu vết gồm: hệ thống vết cày xước mặt đường không liên tục dài 3,55m (điểm đầu vết cày cách mốc cố định 10,8 mét; cách mép vỉa hè làm chuẩn 8,8 mét. Điểm cuối vết cày cách mốc cố định là 8,8 mét); hệ thống vết cày xước mặt đường không liên tục dài 2,86 mét (điểm đầu hệ thống vết cày cách mốc cố định là 11 mét, cách mép vỉa hè là 8,7 mét. Điểm cuối vết cày cách mép vỉa hè là 9,9 mét). Xe tải mang Biển kiểm soát 36C-323.16, xe quay ngang đường, đầu xe hướng phía nhà A P, đuôi xe hướng về phía đường C. Xe đạp đổ nghiêng bên phải (đầu xe hướng về phía cổng rồng, đuôi xe hướng về phía nhà số A P).Vết máu có kích thước 0,75 x 0,45m và thùng tôn có kích thước 0,49 x0,57 x 0,46m.
Kết quả khám phương tiện đối với xe ô tô Biển kiểm soát 36C - 323.16 ghi nhận các dấu vết sau: Biển kiểm soát phía trước bị vỡ khuyết nhựa, kích thước 15cm x 1,4cm; mặt ngoài ốp nhựa cản trước có dấu vết trượt xước nhựa màu đen, bám dính tạp chất màu nâu đỏ (dạng rỉ sét), màu trắng (dạng sơn), màu nâu (dạng bụi bẩn) theo chiều từ trước về sau, kích thước 30cm x 14cm và ốp nhựa phía ngoài cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên trái (bên lái) có vết trượt xước, nứt nhựa bề mặt bám dính tạp chất màu trắng (dạng nhựa) theo chiều từ trước về sau, kích thước 11cm x 4,5cm.
Kết quả khám phương tiện đối với xe đạp mini màu đỏ ghi nhận nhiều dấu vết gồm: Đầu ngoài tay lái bên trái có vết trượt xước mất nhựa màu trắng, kích thước 2cm x 2,5cm. Cạnh ngoài càng xe bên trái bánh trước có vết trượt xước mất sơn màu đỏ, kích thước 4,5cm x 1,3cm. Cạnh ngoài bên trái khung xe giữa có vết trượt xước mất sơn màu đỏ bám dính tạp chất màu xám (dạng bụi đất), kích thước 16cm x 3cm. Đầu ốc bắt trục bên phải bánh trước bị trượt xước kim loại bám dính tạp chất màu xám (dạng bụi đá) kích thước 0,5cm x 0,7cm. Đầu ngoài tay phanh bên phải có vết trượt xước kim loại bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất) kích thước 2cm x 1,7cm. Đầu ngoài thanh gỗ bên phải phía sau xe dập vỡ, kích thước 5cm x 1,5cm và thùng xe kim loại chở phía sau bị bẹp méo, bề mặt trượt xước kim loại mất lớp rỉ sét màu nâu đỏ.
Tại bản Kết luận giám định số 2266/KL – KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
“Dấu vết trượt xước bám dính tạp chất màu trắng (dạng nhựa) theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới ở mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ cụm đèn pha, đèn tín hiệu phía trước bên trái (bên lái) trên xe ô tô mang biển kiểm sát 36C-323.16 phù hợp với dấu vết trượt xước mất nhựa màu trắng ở đầu ngoài tay lái bên trái trên xe đạp”.
Tại Công văn số 3359/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 09/7/2024 của Sở G cung cấp: “Sở G đã tra cứu trên hệ thống dữ liệu quản lý giấy phép lái xe của Cục Đ có dữ liệu về số giấy phép lái xe 38001238199, hạng C, do Sở G1 cấp ngày 05/10/2020, có giá trị đến ngày 05/10/2025, cho Mạc Thăng L có thông tin trên”.
Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện K thể hiện: mẫu máu của Mạc Thăng L tại thời điểm lấy mẫu 05 giờ 58 phút ngày 19/4/2024 nồng độ trong máu là 42,5mg/dL (trị số bình thường <50,2). Phiếu kết quả xét nghiệm nước tiểu của Bệnh viện K thể hiện: mẫu nước tiểu của Mạc Thăng L tại thời điểm lấy mẫu 05 giờ 58 phút ngày 19/4/2024 không có ma túy Marijuana (THC), A, M, M1.
Tại bản Cáo trạng số 145/CT-VKSKA ngày 15 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Mạc Thăng L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, và trình bày Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mạc Thăng L: 18 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét, giải quyết về bồi thường dân sự.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về việc vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại: Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt mặc dù đã được tống đạt lịch phiên toà hợp lệ, người đại diện hợp pháp của bị hại cũng không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố dụng hình sự xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại.
- Về tội danh:
- [3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định pháp y và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 19/4/2024, bị cáo Mạc Thăng L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36C-323.16 tham gia giao thông trên đường P thuộc địa phận phường T, quận K, thành phố Hải Phòng theo hướng từ ngã 5 K đi ngã 4 Cống Đ. Khi đến khu vực trước số nhà A đường P thì chuyển hướng xe quay đầu không quan sát, không đảm bảo an toàn vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ nên xe ô tô do L điều khiển đã va chạm với xe đạp do bà Bùi Thị T1 đang di chuyển theo hướng ngược chiều. Hậu quả, bà T1 bị chết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- [4] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Mạc Thăng L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36C-323.16 khi đến khu vực trước số nhà A đường P thì chuyển hướng xe quay đầu không đảm bảo an toàn đã va chạm với xe đạp do bà Bùi Thị T1 đang di chuyển theo hướng ngược chiều. Hậu quả, bà T1 bị chết nên hành vi của bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [5] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [6] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
- [7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 200 triệu đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
- [9] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân bị cáo tốt, không tiền án, tiền sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạm tội với lỗi vô ý, người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo từ khi phạm tội đến nay không mắc sai phạm gì nên không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là tương xứng với nhân thân, tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
- [10] Bị cáo đã bồi thường số tiền 200 triệu đồng cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét, giải quyết về bồi thường dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo L 01 giấy phép lái xe hạng C cấp ngày 05/10/2020.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
- [11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- [12] Về các nội dung khác:
Đối với xe xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.16 và xe đạp: quá trình điều tra xác định xe ô tô là tài sản của anh Mạc Thăng L. Xác minh xe ô tô không có trong hệ thống xe vật chứng, số khung, số máy là số nguyên thủy. Xe đạp là tài sản của bà Bùi Thị T1. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô cho anh Mạc Thăng L; trả xe đạp cho đại diện gia đình bà Bùi Thị T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Mạc Thăng L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Mạc Thăng L: 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường S, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Mạc Thăng L: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] của Mạc Thăng L do Sở Giao thông vận tải tỉnh G1 cấp ngày 05/10/2020.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
