|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 144/2024/HS-ST
Ngày 13 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điện
- Ông Nguyễn Văn Kháng
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Quàng Văn T, sinh năm 2004;
Nơi sinh và nơi cứ trú: Bản Phé, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn C và bà Quàng Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Thoại bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
Chị Cà Thị L, sinh năm 2004;
Địa chỉ: Bán L, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.
Bà Phùng Phương D, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quàng Văn T sinh năm 2004 ở bản P, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La là đối tượng nghiện ma tuý (loại Heroine) và không có nghề nghiệp ổn định. Thoại đến tỉnh Hưng Yên làm thuê tự do nhưng thuê phòng trọ tại thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương để ở. Để có tiền tiêu sài cá nhân và ma túy để sử dụng nên T nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người khác, nhằm mục đích kiếm lời.
Do có như cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 11 giờ ngày 11/7/2024, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, kiểu dáng Attila, màu xanh, biển số 29Z4-8102 đi từ phòng trọ của T ở thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương đến địa bàn xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy. Thoại đi loanh quanh ở khu vực cánh đồng, gần bãi đất trống thì gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi (không rõ nhân thân, lại lịch) đang đứng ở đường. T đi đến gần và hỏi người này có bán ma túy không thì nam thanh niên trả lời “có”. Thoại đưa cho nam thanh niên số tiền 100.000 đồng bảo bán cho 01 gói (Heroine), người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho T 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa ma tuý (loại Heroine). Thoại cầm gói ma túy đi sâu bên trong bãi đất trống ở xã T, huyện V sử dụng hết gói ma túy vừa mua. Sau khi sử dụng ma túy xong, T điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ của T tại thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Khoảng 15 giờ ngày 12/7/2024, T tiếp tục điều khiển chiếc xe mô tô nhãn biển số 29Z4-8102 đi từ phòng trọ ở thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương đến đại điểm bãi đất trống thuộc xã T, huyện V tìm mua ma túy để bán kiếm lời. Tại đây T thấy một người nam thanh niên khoảng 35 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Thoại đoán người này có ma túy bán nên đi đến gần người đàn ông hỏi: “Có bán ma túy không” thì người này trả lời “có”. T đưa cho nguời đàn ông số tiền 500.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 gói nilong màu trắng và 01 gói nilong màu xanh, bên trong đều chứa ma tuý (loại Heroine). Thoại cất 02 gói nilong vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi đến cổng trường Đại học T5 Quản trị kinh doanh thuộc thôn T, xã T, huyện V để xem ai mua sẽ bán lại với giá cao hơn. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày khi T đang đỗ xe ở ven đường đợi xem có ai mua ma tuý để bán thì bị Tổ công tác Công an xã Trưng Trắc và tổ công tác đội Công an huyện V kiểm tra, phát hiện nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: T4 tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc: “01 gói nilong màu trắng và 01 gói nilon màu xanh, bên trong các gói nilong đều chứa chất kết tinh màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu “THOẠI”); thu tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, bên trong máy lắp sim số 0347275706; Ngoài ra còn quản lý, thu của T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, kiểu dáng Attila, màu xanh, biển số 29Z4 - 8102”.
Cùng ngày 12/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tiến hành Test ma túy đối với Quàng Văn T cho kết quả dương tính với ma túy, loại Heroine.
Tại Bản thông báo kết luận giám định sơ bộ số 511 ngày 12/7/2024 và Kết luận giám định số 511 ngày 15/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột thu trong niêm phong ghi ký hiệu “THOẠI”, có tổng khối lượng là 0,657g (Không phẩy sáu năm bảy gam) là ma tuý (loại Heroine). H lại mẫu vật trong niêm phong ghi số 511 bên trong có 0.625g ma túy, loại Heroin trong niêm phong kí hiệu “THOẠI”.
Quá trình điều tra xác định: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphone 6, màu vàng, bên trong lắp sim số 0347275706 thu giữ của T. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, kiểu dáng Attila, màu xanh, biển số 29Z4 – 8102 Thoại mua lại của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) tại khu vực rìa đường khu vực thành Phố H, tỉnh Hải Dương, đăng ký xe mang tên Phùng Phương D. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với chị D xác định: Năm 2008 chị D mua chiếc xe trên và đăng ký chủ sở hữu tên chị. Năm 2012 chị D bán lại chiếc xe mô tô trên cho một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ). Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu không phải xe vật chứng. Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của phòng K Công an tỉnh H, Cơ quan CSĐT- Công an huyện V đã nhập các vật chứng trên vào kho vật chứng của Công an huyện V để chờ xử lý sau.
Đối với đối tượng T khai đã bán trái phép ma túy cho T tại khu vực xã T, huyện V, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ giải quyết sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quàng Văn T chưa đến mức phải xử lý hình sự, Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Bị cáo Quàng Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thu thập được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo xác định mua Heroin nhằm mục đích bán kiếm lời.
Bản cáo trạng số 141/CT-VKS, ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà,
Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 12/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 511/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,625g ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H.
- - Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, bên trong lắp sim số 0347275706 thu giữ của T phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.
- - Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, kiểu dáng Attila, màu xanh, biển số 29Z4 – 8102 đăng ký mang tên Phùng Phương D; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 023943 do Công an huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/4/2008.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Do có mục đích mua ma túy để bán kiểm lời nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/07/2024, tại khu vực trước cổng trường Đại học T5 Quản trị kinh doanh thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Quàng Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ 0,657g ma tuý (loại Heroin) trên người nhằm mục đích bán trái phép để kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an xã T phối hợp với tổ công tác đội điều tra Công an huyện V phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các chất ma túy nói chung và H1 nói riêng là mặt hàng Nhà nước cấm mua bán lưu thông trên thị trường, nhưng do bị cáo coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lời bất chính. Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe của con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Để trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 511/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,625g ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, bên trong lắp sim số 0347275706 bị cáo T sử dụng để mua bán ma túy nên sẽ tịch thu bán phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, kiểu dáng Attila, màu xanh, biển số 29Z4 – 8102 đăng ký mang tên Phùng Phương D; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 023943 do Công an huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/4/2008 bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại nên trả lại cho bị cáo để sử dụng.
Đối với đối tượng T khai đã bán trái phép ma túy cho T tại khu vực xã T, huyện V, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quàng Văn T chưa đến mức phải xử lý hình sự, Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.
[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 12/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng:
- - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 511/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,625g ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H.
- - Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, bên trong lắp sim số 0347275706 thu giữ của T phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.
- - Trả lại cho bị cáo Quàng Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, kiểu dáng Attila, màu xanh, biển số 29Z4 – 8102 đăng ký mang tên Phùng Phương D; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 023943 do Công an huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/4/2008.
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)
Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Quàng Văn T.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Vân Anh |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
