TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
Bản án số: 144/2024/HS-ST
Ngày 07 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đức Việt
Bà Mai Thị Hiền
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại nhà đa năng trường THPT D nội trú tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024; Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 30/2024/QĐ-TA ngày 05 tháng 11 năm 2024 với các bị cáo:
1. LƯU VĂN L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 8 năm 1990 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Văn S và bà Khuông Tuyết N. Bị cáo có vợ thứ nhất là Phạm Thị Thùy V (Đã ly hôn), vợ thứ hai Trần An T và có 03 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Về nhân thân: Bản án số 181/HSST ngày 21/12/2012 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 86/HSST ngày 05/6/2014 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 05/01/2018, đến nay đã xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. KHUÔNG MẠNH T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 6 năm 1974 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khuông Quốc V1 và bà Chu Thanh M (Chu Thị Thanh M). Bị cáo chưa có vợ. con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Về nhân thân: Bản án số 67/HSST ngày 21/10/1993 của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”; Bản án số 70/2011/HSST ngày 24/6/2011 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã thi hành xong 2 bản án trên, đến nay đã được xóa án tích
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/7/2024, tạm giam ngày 10/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 04/07/2024, Khuông Mạnh T1 gọi điện thoại cho cháu là Lưu Văn L để hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân, Lưu Văn L đồng ý đi tìm mua ma túy về bán cho Khuông Mạnh T1. Khoảng 20 giờ 30 phút, Lưu Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K1-9969 đi vào khu vực km 4 đến km 5, quốc lộ G, thuộc tổ C, phường L, thành phố L và hỏi mua được của một người đàn ông A (một) túi nilon chứa 05 (gói) ma túy Heroine với giá 1.500.000 đồng, sau khi mua được ma túy Lưu Văn L về nhà đón vợ và con để đi chơi và hẹn giao ma túy cho Khuông Mạnh T1. Lưu Văn L gọi điện thoại hẹn Khuông Mạnh T1 ra khu vực phố B giao nhau với đường N, tổ C, phường C, thành phố L để giao ma túy. Khi đến điểm hẹn, Lưu Văn L đỗ xe để đợi Khuông Mạnh T1, vợ và con Lưu Văn L đi bộ ra khu vực đường N cách nơi Lưu Văn L đỗ xe khoảng 50 mét để đứng đợi bạn; Để tránh bị phát hiện, Lưu Văn L ném túi nilon chứa ma túy xuống lề đường sát vị trí đỗ xe, khi Khuông Mạnh T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B1-244.16 đến thì đưa cho Lưu Văn L 2.000.000 đồng, tuy nhiên, do nghi ngờ bị lực lượng Công an theo dõi nên Khuông Mạnh T1 chưa nhận ma túy ngay mà điều khiển xe mô tô đi về hướng đường Đ và đi lòng vòng xung quanh. Khoảng 5 phút sau, Khuông Mạnh T1 quay lại khu vực phố B, dừng xe nhặt túi nilon chứa ma túy từ dưới đường lên, sau đó điều khiển xe đi về nhà còn L đi ra khu vực đường N đón vợ và con đi chơi.
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 04/07/2024, khi Khuông Mạnh T1 đang dừng đỗ xe mô tô ở trên vỉa hè trước số nhà A, đường D thuộc tổ C, phường C, thành phố L thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố L kiểm tra, Khuông Mạnh T1 khai nhận bản thân đang cất giấu ma tuý trên người, tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 05 (gói) ma túy Heroine mua được của Lưu Văn L, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Sau khi biết Khuông Mạnh T1 bị bắt giữ, do sợ bị phát hiện nên Lưu Văn L đã đi khỏi nơi cư trú và đập vỡ rồi vứt chiếc điện thoại Iphone 8 xuống sông H (đây là chiếc điện thoại Lưu Văn L khai sử dụng để liên lạc bán ma tuý cho Khuông Mạnh T1). Đến ngày 15/07/2024 Lưu Văn L quay về nơi cư trú thì Cơ quan điều tra Công an thành phố L yêu cầu Lưu Văn L về trụ sở Công an thành phố L để làm việc. Quá trình làm việc, Lưu Văn L tự giác khai báo hành vi bán ma túy cho Khuông Mạnh T1 với giá 2.000.000 đồng để hưởng lợi số tiền 500.000 đồng. Ngày 16/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành khám xét chỗ ở của Lưu Văn L tại số nhà C, đường M, tổ B, phường L, thành phố L. Quá trình khám xét thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 24K1-9969 (đã qua sử dụng).
Kết luận giám định số 273 ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 1,380 gam các cục chất bột khô, màu trắng gửi giám định đều là chất ma tuý Heroine.
Quá trình điều tra Lưu Văn L khai mua ma tuý heroine bán cho Khuông Mạnh T1 để kiếm lời. Bị cáo Khuông Mạnh T1 khai đã nhận toàn bộ số ma túy thu giữ là bị cáo mua của Lưu Văn L với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.
Cáo trạng số 136/CT-VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Lưu Văn L về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Khuông Mạnh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Văn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Khuông Mạnh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Khuông Mạnh T1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, T2 án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 04/7/2024, bị cáo Khuông Mạnh T1 đã có hành vi mua 1,380 gam Heroine của Lưu Văn L để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện và bắt quả tang; Bị cáo Lưu Văn L đã có hành vi mua 1,380 gam Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời và đã bán cho Lưu Văn L với giá 2.000.000 đồng. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lưu Văn L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Khuông Mạnh T1 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo Lưu Văn L có bà ngoại đồng thời là mẹ bị cáo Khuông Mạnh T1 là Chu Thanh M (Tên gọi khác Chu Thị Thanh M) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Lưu Văn L và Khuông Mạnh T1 là những người có nhân thân xấu. Bị cáo Lưu Văn L tại bản án số 181/HSST ngày 21/12/2012 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 86/HSST ngày 05/6/2014 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo Khuông Mạnh T1 tại bản án số 67/HSST ngày 21/10/1993 của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”; Bản án số 70/2011/HSST ngày 24/6/2011 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Các bị cáo đều đã chấp hành xong hình phạt của các bản án trên và đều đã được xóa án tích.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 24K1-9969. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của anh Nguyễn Mạnh H. Anh H không biết Lưu Văn L sử dụng chiếc xe để đi mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Nguyễn Mạnh H là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển kiểm soát 24B1-244.16 (xe đã qua sử dụng) tạm giữ của Khuông Mạnh T1. Quá trình điều tra xác định ông Khuông Quốc V1 (bố đẻ của Khuông Mạnh T1) mua của chị Hoàng Thị H1, nhưng không viết giấy tờ mua bán xe, không sang tên, đổi chủ; Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai, chị H1 vắng mặt tại địa phương, vì vậy chưa có đủ căn cứ để giải quyết nên Cơ quan điều tra tạm giữ chiếc xe trên để tiếp tục điều tra, xác minh. Khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với 1,11 gam ma tuý Heroine còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số Imei 1: 350538281440896 gắn thẻ sim số thuê bao 0358.588.928 và thẻ sim có số thuê bao 0388.962.472 (đã qua sử dụng) tạm giữ của Khuông Mạnh T1 là tài sản của bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền Lưu Văn L mua 1.500.000 đồng ma túy H2 và bán cho Khuông Mạnh T1 với giá 2.000.000 đồng, như vậy Lưu Văn L đã được hưởng lợi 500.000 đồng là tiền do phạm tội mà có. Vì vậy, cần truy thu số tiền 500.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lưu Văn L ngày 04/7/2024 tại khu vực km 4 đến km 5, quốc lộ G, thuộc tổ C, phường L, thành phố L. Quá trình điều tra Lưu Văn L không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không xác minh, làm rõ được. Khi nào xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với Trần An T (Là vợ của Lưu Văn L). Ngày 4/7/2024 cùng con đi xe với Lưu Văn L khi Lưu Văn L đi giao ma túy cho Khuông Mạnh T1. Tuy nhiên, Trần An T không biết và không tham gia vào hành vi của Lưu Văn L nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Lưu Văn L 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 16/7/2024.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Khuông Mạnh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Khuông Mạnh T1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 04/7/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,11 (Một phẩy mười một) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định ở mẫu M1, M2, M3, M4, M5 trên một mặt của bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Khuông Mạnh T1 ngày 04/7/2024 tại tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số Imei 1: 350538281440896 gắn thẻ sim số thuê bao 0358.588.928 và thẻ sim có số thuê bao 0388.962.472 (đã qua sử dụng) thu giữ của Khuông Mạnh T1;
(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2024)
Truy thu của bị cáo Lưu Văn L số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LƯU VĂN L, KHUÔNG MẠNH T
