Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HSST

Ngày: 25/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Lưu;

2. Bà Nguyễn Thị Lan;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Phương Văn T, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1989 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Tổ A, phường T, quận L, Hà Nội; Hiện ở tại: Thôn K, xã M, huyện K, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phương Văn P và bà Vũ Thị L; Vợ Trần Thị N (đã ly hôn) và 04 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ – Công an huyện H. (Có mặt).

- Bị hại: Anh Phạm Hồng Q, sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, TP . Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 5/2023, do Phương Văn T có nhu cầu vay tiền để làm ăn kinh doanh, thông qua anh Phạm Văn T1 (SN: 1982; NCT: Thôn L, xã Đ, huyện H, TP . Hà Nội) giới thiệu T biết anh Phạm Hồng Q nên T đã trực tiếp liên hệ với anh Q để vay tiền. Sau đó, anh Q cho T vay tổng số tiền là 200.000.000 đồng (trong đó 1 lần ngày 07/7/2023 là 150.000.000 đồng và một lần ngày 10/7/2023 là 50.000.000 đồng) đều bằng hình thức anh Q chuyển khoản đến số tài khoản của T là Ngân hàng H1 là 03401011958536 (đăng ký tên Phương Văn T). Sau một thời gian, T tiếp tục có nhu cầu vay tiền nên đã gọi điện thoại cho anh Q để vay thêm 200.000.000 đồng thì anh Q yêu cầu T phải có tài sản thế chấp thì mới đồng ý cho vay thêm 200.000.000 đồng. Lúc này, do không có tài sản thế chấp nên T đã nghĩ ra cách làm giả “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” để làm tin cho anh Q. T lên mạng xã hội để lại số điện thoại sim rác (T không nhớ số) ở một trang Web (Toàn không nhớ cụ thể ngày nào) với mục đích thuê làm giả “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” thì có một số điện thoại (T không nhớ) đã liên hệ qua sim rác với T và hướng dẫn T làm sổ giả như sau: “Yêu cầu Toàn chụp một bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kết bạn zalo gửi cho họ rồi muốn thay đổi thông tin gì thì nhắn cho họ”. Do T đang có sẵn ảnh chụp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1366 đứng tên ông Trần Hồng K (sinh năm: 1960) và bà Ngô Thị M (sinh năm: 1964) là bố mẹ vợ của T có số thửa đất số 162(2)-10 tờ bản đồ số 2 diện tích 76,3m² thuộc địa chỉ tổ A, phường T, quận L, TP Hà Nội (đã được tặng cho riêng vợ T tên là Trần Thị N, sinh năm: 1991) nên T đã sử dụng điện thoại chuyển ảnh cho người mà T thuê làm giả “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Lúc này, T yêu cầu là sửa tên Giấy chứng nhận đứng tên T là Phương Văn T, sinh năm: 1989, số CCCD: [...], địa chỉ thường trú: Tổ A, phường T, quận L, TP Hà Nội và xoá phần “nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý” trong sổ bỏ phần cho tặng vợ T trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng một tuần sau thì đối tượng làm giả “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” gọi điện qua Z hẹn T đến cổng A - Phố P, phường H, quận H, TP . Hà Nội để đưa cho T “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giả. Lúc này, T nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và đưa 800.000 đồng cho đối tượng làm giả. Sau đó, T mang “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giả đến gặp anh Q tại quán ăn “Trọng Khách” thuộc Khu G, thị trấn T, huyện H, TP . Hà Nội do anh Q là chủ quán. Tại đây, T đưa cho anh Q Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên T rồi T cùng anh Q lập 01 “hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất” với mục đích làm tin cho việc vay tiền của T với anh Q. Sau khi ký xong hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất thì anh Q có chuyển khoản cho T 04 lần vào ngày 09/10/2023 với tổng số tiền 195.000.000 đồng vào tài khoản của T là Ngân hàng H1 là 03401011958536 (đăng ký tên Phương Văn T) và đưa tiền mặt 5.000.000 đồng cho T rồi hẹn đến ngày 09/12/2023 T phải trả anh Q tiền tổng 400.000.000 đồng (bao gồm 200.000.000 đồng nợ cũ và 200.000.000 đồng nợ mới). Sau khi có tiền T đã sử dụng hết số tiền trên và trả nợ cho anh Q được 18.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 07, 08 tháng 8 năm 2023 còn lại T không có khả năng chi trả cho anh Q mặc dù anh Q đã đòi nợ nhiều lần. Do không đòi được và không liên lạc được với T nên anh Q gửi đơn tố giác đến Cơ quan điều tra.

Vật chứng tạm giữ: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phương Văn T và 01 Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất, đều do anh Q cung cấp.

Kết quả xác minh nguồn gốc thửa đất tại Văn phòng Đ – Chi nhánh quận L:

Ngày 06/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H làm việc với ông Nguyễn Hữu T2 – giám đốc chi nhánh cung cấp:

  1. Thửa đất số: 167 (2) – 10, tờ bản đồ số 2, diện tích: 76,3m², địa chỉ: Tổ A, phường T, quận L, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số ĐB 439939, số vào sổ cấp GCN: 1366 do UBND quận L, TP Hà Nội cấp ngày 24/06/2011. Thửa đất 167 (2) – 10, tờ bản đồ số 2, diện tích: 76,3m², địa chỉ: Tổ A, phường T, quận L, TP Hà Nội cho bà Trần Thị N sinh năm: 1991; CCCD số: [...] địa chỉ: Tổ A phường T, quận L, TP Hà Nội. Nguồn gốc bà N nhận tặng cho từ ông Trần Hồng K và bà Ngô Thị M.
  2. Thửa đất số: 167 (2) – 10, tờ bản đồ số 2 đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh H2, được Văn phòng Đ xác nhận ngày 18/6/2022.

Ngày 27/5/2024, Cơ quan điều tra – Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định số 1378 đối với chữ ký, con dấu đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Phương Văn T đưa cho anh Q.

Ngày 10/7/2024, Cơ quan điều tra – Công an huyện H nhận được kết luận giám định số 3998/KL-KTHS đề ngày 28/6/2024 của V - Bộ C, kết luận:

  • Mẫu in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 015692 ghi ngày 05/5/2020 ký hiệu A là mẫu in giả.
  • Chữ ký đứng tên Đỗ Mạnh H trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Đỗ Mạnh H trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không do cùng một người ký ra.
  • Hình tròn có nội dung “ỦY BAN N.D QUẬN LONG BIÊN T.P HÀ NỘI” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Ngày 28/5/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 1390 đối với chữ ký, chữ viết của Phương Văn T tại “Hợp đồng đặt cọc mua bán đất"

Ngày 10/7/2024, Cơ quan điều tra huyện H nhận được kết luận giám định số 3999/KL-KTHS đề ngày 28/6/2024 của V - Bộ C kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Phương Văn T dưới mục “BÊN ĐẶT CỌC (BÊN B) trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Phương Văn T trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người ký, viết ra.

Về bồi thường dân sự: T đã nhờ gia đình bồi thường cho anh Q số tiền 200.000.000 đồng, anh Q nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác đối với khoản 200.000.000 đồng mà T sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để anh Q tin và cho T vay.

Đối với số tiền T còn nợ anh Q vay vào ngày 07, 10 tháng 7 năm 2023 là giao dịch dân sự không liên quan đến vụ việc trên, do vậy dành quyền khởi kiện cho anh Q bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với đối tượng làm giả “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” cho T, T liên hệ qua số điện thoại rác và không nhớ số điện thoại, đồng thời T không có thông tin lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 144/CT-VKSHĐ ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Phương Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Phương Văn T giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Lời nói sau cùng, bị cáo Phương Văn T thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phương Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phương Văn T với mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Anh Q không yêu cầu gì về dân sự nên không xét. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh của bị cáo:

Do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên Phương Văn T đã lên mạng xã hội đặt mua 01 bản “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giả đứng tên Phương Văn T với giá 800.000 đồng (T3 trăm nghìn đồng). Sau đó, T sử dụng “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giả đến quán “Trọng Khách” thuộc khu F, thị trấn T, huyện H, TP . Hà Nội gặp và đưa anh Phạm Hồng Q bản “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giả với mục đích tạo lòng tin để anh Q cho vay tổng số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Sau khi, T nhận đủ 200.000.000 đồng của anh Q thì T đã không trả nợ, chặn liên lạc với anh Q, bỏ đi khỏi địa phương và chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng cố ý thực hiện hành vi sử dụng giấy tờ giả và hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền tiêu sài cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phương Văn T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, trật tự quản lý hành chính của nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là rất cần thiết, cần xử lý trước pháp luật để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo đã “khắc phục hậu quả”, bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, gia đình có công với cách mạng, đây là các tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Do vậy, căn cứ nhân thân của bị cáo, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo việc cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Hồng Q tự nguyện không yêu cầu về dân sự nên không xét.

[9] Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án vật chứng là 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phương Văn T, 01 Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất đều do anh Q cung cấp.

[10] Đối với số tiền T vay anh Q vào ngày 07, 10 tháng 7 năm 2023 là giao dịch dân sự không liên quan đến vụ việc trên, do vậy, anh Q được khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

[11] Đối với đối tượng làm giả “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” cho T, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

[12] Về án phí: Bị cáo Phương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phương Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  3. Xử phạt: Bị cáo Phương Văn T 05 (Năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  5. Bị cáo Phương Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  7. Bị cáo Phương Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Bị hại – anh Phạm Hồng Q vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - UBND nơi BC cư trú;
  • - VKSND huyện Hoài Đức;
  • - Công an huyện Hoài Đức;
  • - Chi cục THADS H.Hoài Đức;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP.Hà Nội;
  • - Lưu: VP, THAHS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HSST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan)

  • Số bản án: 144/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger