Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/DS-ST

Ngày 30/9/2024

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Kim Thu

Bà Mai Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 332/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N

Trụ sở chính: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Du M. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP N, chi nhánh A.

Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Đặng Ngọc T. Chức vụ: Trưởng Phòng G. (Ông T có mặt)

2. Bị đơn: Ông Văn Công T1, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N trình bày như sau:

Ngày 31/3/2022 ông Văn Công T1 có ký Hợp đồng tín dụng số 1104/2022/NH-AGI-TGLX với Ngân hàng TMCP N, chi nhánh A để vay số tiền 800.000.000 đồng, mục đích nuôi cá, thời hạn vay 11 tháng; lãi suất 7,5%/năm, quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Tài sản thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm số tiền vay là quyền sử dụng đất diện tích 29.742m² đất trồng lúa tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 829791 đứng tên ông Văn Công T1.

Trong thời gian vay, ông Văn Công T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng N, chi nhánh A. Tính đến ngày 22/6/2023 ông T1 còn nợ tổng số tiền 786.287.201 đồng (trong đó: vốn gốc 749.553.194 đồng, lãi trong hạn 27.431.223 đồng, lãi quá hạn 9.302.784 đồng).

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Văn Công T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền gốc và lãi là 786.287.201 đồng và tất cả các khoản lãi phát sinh tiếp theo sau ngày 22/6/2023 đến khi thanh toán dứt điểm nợ.

Trường hợp ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Bị đơn ông Văn Công T1:

Ông Văn Công T1 đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án và yêu cầu ông T1 có mặt tại Toà nhưng ông T1 cố tình trốn tránh nên không có lời khai của ông T1 tại Toà án. Các văn bản tố tụng của Toà đã được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Văn Công T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 832.644.943 đồng (trong đó: Gốc 699.547.158đ; Lãi trong hạn 89.672.537đ; Lãi quá hạn 43.425.248đ). Ngoài ra, ông T1 phải trả cho Ngân hàng tất cả các khoản lãi phát sinh tiếp theo sau ngày 22/8/2024 đến khi thanh toán dứt điểm nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Đây là vụ án dân sự tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức có đăng ký kinh doanh, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn hiện có địa chỉ và cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất thụ lý và giải quyết là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Văn Công T1 vắng mặt lần thứ hai. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên toà giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung vụ án:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Vào ngày 31/03/2022 ông Văn Công T1 có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP N, chi nhánh A để vay số tiền 800.000.000 đồng, mục đích để nuôi cá, thời hạn vay 11 tháng, lãi suất 7,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Khi vay ông T1 có thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 29.742m² đất trồng lúa tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận QSD đất số Y 829791 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 21/11/2003 đứng tên ông Văn Công T1. Trong quá trình vay có trả lãi và gốc một phần. Đến ngày 28/02/2023 quá hạn gốc và lãi. Sau đó cán bộ Ngân hàng có liên lạc trao đổi với ông T1 thì đến ngày 19/4/2023 ông T1 trả thêm được tiền gốc 50.000.000 đồng và ngày 15/9/2023 trả tiếp được gốc 50.000.000 đồng, sau đó ông T1 ngưng trả gốc, lãi đến nay, phía Ngân hàng cũng không liên lạc được với ông T1.

Tạm tính đến ngày 22/8/2024 ông T1 còn nợ Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi là 832.644.943 đồng (trong đó: Gốc 699.547.158đ; Lãi trong hạn 89.672.537đ; Lãi quá hạn 43.425.248đ).

Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, nguyên đơn đã cung cấp toàn bộ hồ sơ cấp tín dụng có chữ ký của ông Văn Công T1 nên đây được xem là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Văn Công T1 không có mặt theo yêu cầu của Toà án, như vậy ông T1 đã từ chối quyền và nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định ông Văn Công T1 có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP N, chi nhánh A để vay số tiền 800.000.000 đồng và tính đến ngày 22/8/2024 ông T1 còn nợ Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi là 832.644.943 đồng (trong đó: Gốc 699.547.158đ; Lãi trong hạn 89.672.537đ; Lãi quá hạn 43.425.248đ). Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo

hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng nên HĐXX cần buộc ông Văn Công T1 phải thanh toán số tiền gốc và lãi nêu trên cho ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra ông T1 còn phải chịu tất cả các khoản lãi phát sinh tiếp theo sau ngày 22/8/2024 đến khi thanh toán dứt điểm nợ cho Ngân hàng.

Xét hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay, ông Văn Công T1 có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 440/2021/HĐTC-AGI-TGLX ngày 22/4/2021, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 29.742m² đất trồng lúa tại thửa số 51, tờ bản đồ số 01. Đất toạ lạc tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 829791 ngày 21/11/2003 đứng tên Hộ ông Văn Công T1. Xét thấy diện tích đất 29.742m² thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng, có nguồn gốc do ông T1 nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn X vào năm 2003 chứ không phải diện tích đất do nhà nước cấp cho Hộ gia đình. Do đó, HĐXX xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 829791 ngày 21/11/2003 do UBND huyện H cấp cho ông Văn Công T1 chứ không phải cấp cho hộ. Tại thời điểm thế chấp quyền sử dụng đất, ông T1 độc thân, chưa lập gia đình nên ông T1 ký hợp đồng thế chấp tài sản là đúng quy định. Như vậy, hợp đồng thế chấp giữa các bên được công chứng và được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đúng quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên. Do đó, trong trường hợp ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015.

Khi ông Văn Công T1 thanh toán hết gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP N thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho ông Văn Công T1.

Từ những cơ sở trên, sau khi thảo luận nghị án, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Văn Công T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 36.979.000 đồng.
  • - Ngân hàng TMCP N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Chi phí trích lục hồ sơ và chi phí tố tụng khác 2.500.000 đồng. Số tiền này buộc bị đơn ông Văn Công T1 phải thanh toán lại cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N đối với ông Văn Công T1.

Buộc ông Văn Công T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 832.644.943 đồng (T2 trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn, chín trăm bốn mươi ba đồng). Trong đó;

  • - Nợ gốc: 699.547.158 đồng.
  • - Nợ lãi trong hạn: 89.672.537 đồng.
  • - Nợ lãi quá hạn: 43.425.248 đồng.

Kể từ sau ngày 22/8/2024, ông Văn Công T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP N thì lãi suất mà ông T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Trường hợp ông Văn Công T1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 29.742m² đất trồng lúa tại thửa số 51, tờ bản đồ số 01. Đất toạ lạc tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 829791 ngày 21/11/2003 đứng tên ông Văn Công T1 để thu hồi nợ. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông T1 tại ngân hàng thì ông T1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng.

Sau khi ông Văn Công T1 hoàn tất nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP N có trách nhiệm trả lại bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ông T1.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Văn Công T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 36.979.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, chín trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
  • - Ngân hàng TMCP N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 17.725.000 đồng (Mười bảy triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003487 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

3. Chi phí tố tụng khác 2.500.000 đồng. Buộc bị đơn ông Văn Công T1 phải thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP N.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 144/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger