Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Bản án số: 144/2024/HSST
Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Lương.
  2. Ông Phạm Xoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận Hải Châu TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXX-HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết Anh T; Tên gọi khác: Chó, sinh ngày: 26/3/1992, tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở: Số A đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo : Không; Con ông Nguyễn Viết L (SN: 1965) và bà Trần Thị H (SN 1974, sống); Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 01.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân : Bản án số 67/2011/HSST ngày 07/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP ., xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Ông Võ Viết C, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Tổ B, khu C, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

2/ Anh Nguyễn Xuân L1, sinh năm: 1992. Địa chỉ: K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Xuân T1. Sinh năm: 1990. Địa chỉ: K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Công ty cổ phần T3. Địa chỉ: Số B N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: ông Thân T2. Chức danh: Tổng Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong tháng 7.2019, Nguyễn Viết Anh T đã 02 lần chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Đối với hành vi lợi dung việc anh Võ Viết C nhờ chở sắt đi giao giúp đã chiếm đoạt tài sản:

Ngày 03.7.2019, anh Võ Viết C là nhân viên quản lý kho của Công ty cổ phần T3 - địa chỉ: Số B N, phường H, quận H, TP . (do ông Thân T2, sinh năm: 1965 làm Tổng giám đốc), nhận Nguyễn Viết Anh T vào làm việc. Việc nhận T vào làm việc là do T đến xin việc trong lúc cần người nên anh C tự nhận, T làm thời vụ, không ký kết hợp đồng lao động với Công ty, nhiệm vụ của T và bốc xếp hàng hóa và dọn dẹp kho. Ngày 05.7.2019, do anh C và những nhân viên giao hàng bận việc nên anh C có nhờ T vận chuyển 01 xe sắt thép gồm: 80kg thép cuộn phi 6 V, 375kg thép cuộn phi 8 V, 20 cây thép phi 16 V, đến giao cho anh Hồ Văn P tại địa chỉ K đường T, TP . (hàng này đã được anh C bán và nhận tiền hàng trước đó). Trên đường đi, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên T chở sắt đến 01 cửa hàng thu mua phế liệu trên đường P, TP . (không nhớ rõ địa chỉ) bán với giá 7.000.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Quá trình làm việc, đại diện Công ty cổ phần T3 và anh C khai thì số sắt trên Công ty giao cho anh C quản lý, việc giao hàng, quản lý tài sản do anh C chịu trách nhiệm, nếu mất thì anh C phải đền bù.

Đối với hành vi T chiếm đoạt laptop của anh Nguyễn Xuân L1:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 31.7.2019, Nguyễn Viết Anh T cùng với anh Nguyễn Xuân L1 đang uống cà phê trên đường P T mượn chìa khóa phòng trọ của anh L1 tại địa chỉ K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng để về tắm rửa. Khi tắm rửa xong, T định đi thì phát hiện có 01 chiếc Laptop nhãn hiệu ASUS, màu xám đen đang ở phòng trọ nên đã lấy trộm (Laptop này là do anh L1 mượn của anh Lê Xuân T1 để làm việc). T đem Laptop cầm đồ tại một tiệm cầm đồ trên đường T, TP . (không nhớ rõ địa chỉ), với số tiền 2.500.000 đồng.

Ngày 17.6.2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Viết Anh T. Ngày 22.7.2024, Nguyễn Viết Anh T đã đến Cơ quan Công an quận H để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ của: Nguyễn Viết Anh T: 430.000 đồng, tiền T cầm máy tính tiêu xài còn lại, T tự nguyện giao nộp; Thu giữ của anh Võ Viết C: 01 phiếu giao hàng ngày 05.7.2019; Thu giữ của anh Nguyễn Xuân L1: 07 bản ảnh trích nội dung tin nhắn giữa anh L1 và T về việc T có trộm cắp tài sản của anh L1.

Theo Kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐG ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Máy tính xách tay hiệu Asus màu xám đen, xuất xứ Trung Quốc, đã qua sử dụng có giá trị 2.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 117/KL-HĐĐG ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: 80Kg thép cuộn phi 6 V, xuất xứ Việt Nam, chưa qua sử dụng có giá trị: 1.128.000 đồng; 375Kg thép cuộn phi 8 V, xuất xứ Việt Nam, chưa qua sử dụng có giá trị: 5.287.500 đồng; 20 cây thép phi 16 V, xuất xứ Việt Nam, chưa qua sử dụng có giá trị: 4.820.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 11.235.500 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an quận H đã cho anh Võ Viết C nhận dạng qua ảnh. Kết quả, anh C nhận dạng được T là người đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tại Cáo trạng số 110/2024/CT- VKS ngày 29/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Viết Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 175 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa:

Những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án và bị cáo xác nhận lời khai của những người này là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Viết Anh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Anh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự phạt xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Anh T từ 12 tháng đến 15 tháng tù; áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc chấp hành hình phạt chung của hai tội.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Viết L (cha ruột của Nguyễn Viết Anh T) đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Xuân L1 số tiền 2.000.000 đồng, Võ Viết C số tiền 10.000.000 đồng và người bị hại không có yêu cầu gì nên không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng : Đối với số tiền 430.000đ thu giữ của bị cáo T đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì.

Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình giải quyết, nguời bị hại ông Võ Viết C và ông Nguyễn Xuân L1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu TP Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Viết Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên ngày 05.7.2019 tại Công ty cổ phần T3 - địa chỉ: B N, phường H, quận H, TP ., Nguyễn Viết Anh T lợi dụng việc được anh Võ Viết C nhờ đi giao giúp sắt thép cho khách hàng, T đã mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trị giá tài sản T chiếm đoạt của anh C là 11.235.500 đồng.

Ngày 31.7.2019, tại nhà số K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Viết Anh T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc Laptop hiệu ASUS của anh Nguyễn Xuân L1. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.235.500 đồng.

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Viết Anh T đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS và tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS. Do đó Cáo trạng số 110/2024/CT- VKS ngày 29/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội thì thấy: Do ý thức coi thường pháp luật, lười lao động nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân một cách dễ dàng và nhanh nhất nên bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện các hành vi phạm tội, cụ thể: bị cáo T đã lợi dụng sự tin tưởng của anh C, giao sắt cho bị cáo đi giao cho khách hàng và bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của họ, đồng thời đã lợi dụng sự sơ hở của anh Nguyễn Xuân L1 trong việc quản lý tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh L1 rồi đi bán tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhân thân bị cáo xấu, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP . xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha ruột bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; bị cáo tự đến cơ quan Công an đầu thú; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Do bị cáo phạm nhiều tội trong cùng một vụ án nên cần áp dụng Điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt chung mà bị cáo phải thi hành.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Viết L là cha ruột của bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại không có ý kiến yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 430.000₫ là tài sản do phạm tội mà có nên cần tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với người đã nhận cầm cố laptop và mua sắt do T bán, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên HĐXX không đề cập đến.

[9] Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng đối với đề nghị về mức hình phạt có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo khi ra đầu thú.

[10] Án phí HSST: Bị cáo T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết Anh T phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản".

  1. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết Anh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 22/7/2024.

  2. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết Anh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 22/7/2024.

    Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội bị cáo Nguyễn Viết Anh T phải thi hành là 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 22/7/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 430.000đ. (Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 39490904164500000 của Công an quận H, thành phố Đà Nẵng mở tại kho bạc nhà nước thành phố Đà Nẵng theo chứng từ giao dịch ngày 08/9/2023).

  4. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Viết Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Cơ quan THA Hình sự quận Hải Châu;
  • - Chi Cục THADS quận Hải Châu;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 144/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Viết Anh Tuấn phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger