Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
  • Các Hội thẩm nhân dân.
    • Ông Nguyễn Thanh Hoàng;
    • Ông Nguyễn Chí Lin;
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang - Kiểm sát viên;

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh), sinh ngày 13/5/1990.

Nơi cư trú: Số A, Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1951 (sống) và bà Phan Thị T1, sinh năm 1953 (sống); Bản thân không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân:

Ngày 17/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng.

Ngày 13/12/2017, Nguyễn Chiến T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành hình phạt xong vào năm 2018, thi hành xong án phí HSST và án phí DSST vào ngày 27/9/2018 .

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay, bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ (B), sinh ngày 04/02/1995.

Nơi cư trú: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974 (sống) và bà Nguyễn Thị Nguyệt E, sinh năm 1973 (sống); H1 và tên vợ: Lê Thị Minh N, sinh năm 1997;

Con: có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2024 đến ngày 06/9/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Hiền M, sinh năm 1975, (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Lê Văn T2, sinh năm 1965, (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Huỳnh Hữu N1, sinh năm 1993, (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

  5. Bùi Chiến C, sinh năm 1987, (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  7. Cao Hoàng T3, sinh năm 1994, (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người làm chứng: B, sinh năm 1995,(vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/02/2024, Nguyễn Chiến T đang ngồi ở ghế đá gần nhà bạn gái của T tên là N2 (không rõ nhân thân, lai lịch) tại Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thì gặp C1 (không xác định nhân thân, lai lịch) là bạn bè ngoài xã hội với T. Trong lúc nói chuyện, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên C1 rủ T đi tìm tài sản ấy trộm đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, T đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 02/02/2024, C1 chuẩn bị 01 cái kiềm cộng lực rồi điều khiển xe mô tô loại Dream, màu nâu của T (không rõ biển số) chở T đi từ thị trấn H hướng về ngã tư Đ để tìm tài sản lấy trộm.

Đến khoảng 01 giờ ngày 03/02/2024, khi C1 và T đi đến dãy nhà trọ B1, thuộc ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, C1 và T nhìn thấy nhà trọ mở đèn, không có người trông coi nên C1 kêu T cùng đột nhập vào tìm tài sản để trộm, T đồng ý. C1 kêu T đứng bên ngoài cảnh giới, còn C1 đột nhập vào bên trong tìm tài sản để lấy trộm. Sau đó, T đứng bên ngoài để cảnh giới, C1 cầm theo 01 cái kiềm cộng lực để bẻ khóa ổ khóa cửa phòng trọ nhưng C1 không bẻ khóa được nên kêu T vào hỗ trợ. T đi vào cùng với C1 dùng kiềm cộng lực cắt được ổ khóa phòng trọ số 03 của ông Nguyễn Hiền M, C1 đi vào bên trong lấy trộm 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen bạc, biển số 62P1-152.69 rồi dẫn ra khỏi phòng trọ. Do xe không có chìa khóa nên C1 dẫn xe này ra ngoài cổng phòng trọ và đi đến vị trí của T đang đứng. Sau đó, C1 ngồi lên xe mô tô lấy trộm được kêu T điều khiển xe mô tô của T, dùng chân đẩy chiếc xe này về

hướng đường kinh nổi một đoạn khoảng 500 mét thì dừng xe lại để bẻ ổ khóa công tắc xe. Lúc này, C1 lấy từ trong người ra 01 (một) cái kéo rồi cạy ổ khóa công tắc xe nhưng không được, C1 nhìn thấy tại ổ khóa đóng mở yên xe có 01 chìa khóa xe mô tô, lấy chìa khóa gắn vào ổ khóa khởi động xe thì xe nổ máy. Sau đó, T điều khiển xe mô tô của T, C1 điều khiển xe mô tô vừa trộm được chạy theo đường kinh nổi hướng về thị trấn H thì dừng lại cặp lộ. C1 kêu T đứng đợi, còn C1 đi lấy biển số xe mô tô số: 62P1-290.29 cất giấu trước đó đem đến gắn vào xe mô tô lấy trộm được, C1 lấy biển số 62P1-152.69 cùng cái kiềm cộng lực đi cất giấu và để lại chiếc xe mô tô vừa trộm được cho T giữ, kêu T đứng đợi để đem xe đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, T đồng ý. Lúc này, T gặp Cao Hoàng T3 (là bạn bè quen biết của T ngoài xã hội), T kêu T3 điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm được đến nhà của Nguyễn Tiến Đ giùm T, T3 đồng ý. Sau đó, C1 quay lại ngã tư Trại G, H để cùng T đến nhà Đ để bán xe mô tô lấy trộm được. Tại nhà Đ, T nói cho Đ biết xe mô tô được gắn biển số 62P1-290.29 trên là do T, C1 trộm cắp mà có và đề nghị bán với giá 2.500.000 đồng thì Đ thấy xe còn tốt nên đồng ý mua để sử dụng. Số tiền bán xe có được, T chia cho C1 1.000.000 đồng, cho T3 200.000 đồng, còn lại 1.300.000 đồng T giữ để tiêu xài cá nhân. Ngày 04/02/2024, ông Nguyễn Hiền M trình báo đến Công an thị trấn H đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTD ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen – bạc, số khung: 203PY-372210, số máy: C12E-3172242, trị giá tài sản là 5.000.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 144/CT-VKSĐH ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Chiến T (T Ba Đinh) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Truy tố Nguyễn Tiến Đ (B) về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự;

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) và Nguyễn Tiến Đ (B) gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, thời hạn tù tính ngày thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền thu lợi bất chính 1.300.000đồng, bị cáo T nhờ gia đình nộp thay đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền thu lợi từ việc bán xe mô tô, T chia cho Cao Hoàng T3 200.000 đồng, cần buộc Cao Hoàng T3 nộp lại 200.000 đồng và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen - bạc, số khung: 203PY-372210, số máy: C12E-3172242 và biển số xe 62P1-152.69 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hiền M nên Cơ quan cảnh sát điều tra đả trả lại cho ông M nguyên vẹn, ông M không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý.

Đối với biển số xe 62P1-290.29, qua tra cứu hệ thống dữ liệu xác định biển số trên do ông Huỳnh Hữu N1 đăng ký, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả biển số trên cho ông N1 nên không đề cập.

Đối với đối tượng tên C1, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định tách vụ án hình sự số 06 ngày 04/9/2024 khi nào bắt được C1 sẽ điều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi của Cao Hoàng T3 là người giúp bị cáo T mang xe mô tô Honda, loại Wave Alpha, BS: 62P1-290.29 đến nhà Nguyễn Tiến Đ. Qua điều tra, xác định T3 không biết xe mô tô này là tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi của T3 không đồng phạm với Nguyễn Chiến T.

Đối với hành vi của ông Lê Văn T2 cho Đ gửi xe tại nhà ông T2 nhưng không biết xe mô tô Honda, loại Wave Alpha, BS: 62P1-290.29 là xe do trộm cắp mà có nên hành vi ông T2 không đồng phạm với Đ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị các không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các

hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[2]. Đánh giá của Hội đồng xét xử:

[2.1]. Hành vi khách quan của các bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) và Nguyễn Tiến Đ (B) đã thực hiện:

Khoảng đầu tháng 02 năm 2024, do không có tiền tiêu xài nên C1 (không rõ nhân thân, lai lich) rủ Nguyễn Chiến T đi tìm tài sản không có người trông coi để trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Thực hiện hành vi C1 đã chuẩn bị 01 cái kiềm cộng lực rồi điều khiển xe mô tô loại Dream, màu nâu (không rõ biển số của T) đi tìm tài sản lấy trộm.

Đến khoảng 01 giờ ngày 03/02/2024, khi C1 và T đi đến dãy nhà trọ B1, địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, C1 và T nhìn thấy tại phòng trọ số 3 của ông Nguyễn Hiền M có 01 xe mô tô không có người trông coi nên T, C1 có hành vi dung kiểm cộng lực đã chuẩn bị sẵn cắt ổ khóa cửa và chiếm đoạt của ông M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen - bạc, số khung: 203PY-372210, số máy: C12E-3172242, biển số 62P1-152.69. Sau khi về đến ngã tư Trại G thì C1 tháo biển số xe 62P1-152.69 cất giấu và gắn biển số xe 62P1-290.29 vào xe vừa trộm được. Sau đó, T đem xe vừa trộm được của ông M đến nhà của Nguyễn Tiến Đ để bán. Tại đây, Đ biết xe T bán là do trộm cắp mà có nhưng Đ vẫn mua với giá 2.500.000đồng.

Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1), Nguyễn Tiến Đ (B) tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Hiền M; phù hợp lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; đúng về thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi lấy trộm, đúng về đặc điểm tài sản bị mất trộm, phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp nội dung cáo trạng.

[2.2]. Hội đồng xét xử nhận định:

Có căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Chiến T vì muốn có tiền để tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Hiền M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen - bạc, số khung: 203PY-372210, số máy: C12E-3172242, biển số 62P1-152.69 với giá trị là 5.000.000đồng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người khác là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương.

Ngoài ra, sau khi trộm được xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen - bạc, số khung: 203PY-372210, số máy: C12E-3172242, biển số 62P1-

152.69 của ông M thì T đem đến nhà Nguyễn Tiến Đ bán. Tuy Đ không hứa hẹn trước nhưng biết rõ xe mô tô do T đem đến là do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với giá 2.500.000đồng.

Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo qui định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Có cơ sở xác định Cáo trạng số 144/CT-VKSĐH ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh), Nguyễn Tiến Đ (B) theo tội danh, Điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết định khung:

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh), Nguyễn Tiến Đ (B) không bị áp dụng tình tiết tăng nặng khác tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh) có nhân thân xấu, thành khẩn khai báo và có ý thức ăn năn, có nhờ gia đình tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T.

Bị cáo Nguyễn Tiền Đ2 (B) có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo và có ý thức ăn năn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Xét bị cáo Đ2 có nơi cư trú rõ ràng, do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo Đ2 cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Từ đó, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 173, khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền thu lợi bất chính 1.300.000đồng, bị cáo T đã nhờ gia đình nộp thay, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền thu lợi của T chia cho Cao Hoàng T3 200.000 đồng, cần buộc Cao Hoàng T3 200.000 đồng nộp lại và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen - bạc, số khung: 203PY-372210, số máy: C12E-3172242 và biển số xe 62P1-152.69 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hiền M nên Cơ quan cảnh sát điều tra đả trả lại cho ông M nguyên vẹn, ông M không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý.

Đối với biển số xe 62P1-290.29, qua tra cứu hệ thống dữ liệu xác định biển số trên do ông Huỳnh Hữu N1 đăng ký, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả biển số trên cho ông N1 nên không đề cập.

[7]. Về xem xét hành vi của những người có liên quan:

Đối với đối tượng tên C1, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định tách vụ án hình sự số 06 ngày 04/9/2024 khi nào bắt được C1 sẽ điều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi của Cao Hoàng T3 là người giúp bị cáo T mang xe mô tô Honda, loại Wave Alpha, BS: 62P1-290.29 đến nhà Nguyễn Tiến Đ. Qua điều tra, xác định T3 không biết xe mô tô này là tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi của T3 không đồng phạm với Nguyễn Chiến T.

Đối với hành vi của ông Lê Văn T2 cho Đ gửi xe tại nhà ông T2 nhưng không biết xe mô tô Honda, loại Wave Alpha, BS: 62P1-290.29 là xe do trộm cắp mà có nên hành vi ông T2 không đồng phạm với Đ.

[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/YBTVQH14 ngày 30/`12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh), Nguyễn Tiến Đ (B) mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh:
    1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đ1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh) mức án 01 (một) năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    3. Áp dụng Điều 2, Điều 4, Điều 6 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ- ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

      Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) về Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trường hợp bị cáo Nguyễn Tiến Đ (B) thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về tạm giam: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh) trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 25/9/2024 để đảm bảo thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.300.000đồng của gia đình bị cáo Nguyễn Chiến T nộp. (Số tiền 1.300.000đồng đang tạm giữ theo biên lai thu số 0003145, ngày 28/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Chiến T (Thắng Ba Đinh), Nguyễn Tiến Đ (B) mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 144/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Chiến T và đồng phạm, phạm tội "trộm cắp tài sản theo Điều 173 và tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo điều 323"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger