|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn và ông Trần Quang Thuần
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:153/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:149/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024.
1. Điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện Đ
Bị cáo: Nguyễn Minh D năm 1994 tại Long An.
Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: tổ 6, ấp Tây Phú, xã Long Phụng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Chỗ ở: ấp 6, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Quách Văn N năm 1961 và con bà Nguyễn Thị Ngọc B năm 1967. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Vợ, con: Chưa.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án số 70/2015/HSST ngày 27/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Chấp hành xong bản án ngày 01/9/2017.
Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/4/2024
2. Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm:
Bị hại: Chị Hà Phương T năm: 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh D năm 1994, đăng ký thường trú tại tổ F, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long Annhưng tạm trú tại ấp F, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nailà đối tượng không có việc làm ổn định và nghiện ma túy.
Vào khoảng 07 giờ ngày 08/4/2024, D1 đến khu vực xã P, huyện Đ và mượn 01 xe mô tô hiệu Wave, màu xanh (Dkhông nhớ biển số) của 01 người nam thanh niên có tên thường gọi là “Cui”. Sau khi được “Cui” cho mượn xe, D2 khiển xe mô tô trên đi về khu vực ấp F, xã T, huyện Đ 9 giờ cùng ngày, D2 khiển xe mô tô trên đi đến khu vực rẫy điều thuộc ấp C, xã T gặp chị Hà Phương T1– sinh năm 1982, trú tại ấp C, xã T làm rẫy một mình nên D3 sinh ý định cướp tài sản của chị T2 có tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, D1 bộ đến căn chòi trong rẫy thì nhìn thấy có 01 con dao rựa dài khoảng 50cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, mũi dao cong nên D4 tay phải cầm con dao đi đến trước mặt chị T3 thời, D5 tụt quần short màu xám đen mà D6 mặc xuống đầu gối làm lộ bộ phận sinh dục của D7 mục đích để cho chị T4 hổ và nói “Đưa tiền đây”. Lúc này, chị T5 đi làm không có tiền nên Dương cầm dao bổ về phía chị T6 nói “Không có tiền thì đưa điện thoại đây”. Do sợ hãi nên chị T7 01 điện thoại di động để trong túi áo bên phải ra và ném về phía bên phải cách chị T8 02m. Sau đó, D8 chóng đi lại nhặt điện thoại của chị T9 chạy thoát.
Sau khi cướp được điện thoại di động của chị T10 khiển xe mô tô đi đến khu vực xã P và trả xe mô tô cho đối tượng “Cui”. Đồng thời, D20 bán chiếc điện thoại vừa cướp được cho “Cui” với giá 300.000 đồng nhưng D22 nhận tiền mà nhận 01 gói ma túy đá từ “Cui” để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 45 phút ngày 09/4/2024, Cơ quan điều tra đã phát hiện và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Minh D9 Cơ quan điều tra, Dđã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã như trên.
Tài sản thiệt hại:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y2ls màu xanh đen bên trong có 01 sim điện thoại số 0972.793.xxx (hiện không thu hồi được).
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HDĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của huyện Đkết luận 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y2ls màu xanh đen và 01 sim điện thoại số 0972.793.xxx có giá trị là 2.085.000 đồng.
Trách nhiệm dân sự:
Chị Hà Phương T11 nhận của bà Nguyễn Thị Ngọc B1– sinh năm 1967 (là mẹ của Nguyễn Minh D10 tiền 4.000.000 đồng và chị T11 làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Minh D11
- buộc Nguyễn Minh D12 lại số tiền 300.000đồng sung công quỹ Nhà nước
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y2ls màu xanh đen bên trong có 01 sim điện thoại số 0972.793.xxx. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm chiếc điện thoại nói trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 con dao rựa dài khoảng 50cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, mũi dao cong. Quá trình điều tra, Nguyễn Minh D13 trên đường bỏ chạy sau khi đã cướp được chiếc điện thoại di động của chị T12 vứt bỏ con dao trên. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thấy. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm con dao trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 xe mô tô hiệu Wave, màu xanh. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên “Cui” nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm xe mô tô trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau
Cáo trạng số:290/CT-VKSÐQ ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Minh D14 tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh D14 tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 168; điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D15 07( bảy) năm 06(sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Hà Phương T11 nhận của bà Nguyễn Thị Ngọc B1– sinh năm 1967 (là mẹ của Nguyễn Minh D10 tiền 4.000.000 đồng và chị T11 làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Minh D11
Các vấn đề khác:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y2ls màu xanh đen bên trong có 01 sim điện thoại số 0972.793.xxx. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm chiếc điện thoại nói trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 con dao rựa dài khoảng 50cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, mũi dao cong. Quá trình điều tra, Nguyễn Minh D13 trên đường bỏ chạy sau khi đã cướp được chiếc điện thoại di động của chị T12 vứt bỏ con dao trên. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thấy. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm con dao trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 xe mô tô hiệu Wave, màu xanh. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên “Cui” nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm xe mô tô trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau
Đối với đối tượng tên “Cui”, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Minh D16 quan điều tra đã triệu tập đối tượng tên Lai Ngọc T13– sinh năm 1979, trú tại phố A, ấp D, xã P, huyện Đ có nhân thân, đặc điểm nhận dạng như lời khai của D17 làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Tlkhai có quen biết với Nguyễn Minh D18 khoảng 02 năm nay đã không gặp Dđồng thời, T1khẳng định không cho D19 xe mô tô và không nhận 01 điện thoại di động từ Dnhư D20 khai. Khi Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Minh D21 dạng qua ảnh đối với Lai N1 T1thì Dxác định T1không phải là đối tượng tên “Cui” mà D20 khai. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Lai N1 T1Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người tên “Cui” mà D20 khai, khi nào tìm được sẽ điều tra, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo trình bày ý kiến: Cáo trạng nêu hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, bị cáo không có ý kiến đối với nội dung bản cáo trạng. Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ1, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo D thành khẩn khai nhận vào khoảng 09 giờ ngày 08/4/2024, tại khu vực rẫy của chị Hà Phương T14 ấp C, xã T, huyện Đ dùng 01 con dao rựa dài khoảng 50cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, mũi dao cong đe dọa làm chị T15 sợ và chiếm đoạt của chị T16 điện thoại di động hiệu Vivo Y2ls màu xanh đen kèm theo 01 sim điện thoại số 0972.793.xxx.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 290/CT-VKSÐQ ngày 29 tháng 8 năm 2024, truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tội phạm bị cáo thực hiện đã xâm phạm quyền sử hữu tài sản, tinh thần của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được việc cưỡng đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mong muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân mà cố tình thực hiện. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh D22 có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáoNguyễn Minh D1đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và người bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cướp tài sản đoạt tài sản nhằm mục đích lấy tiền chi tiêu cá nhân, nên ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ nhà nước. Song xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn,không có tài sản riêng, do vậy cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[5] Các biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Về trách nhiệm dân sự: Chị Hà Phương T11 nhận của bà Nguyễn Thị Ngọc B1(là mẹ của Nguyễn Minh D10 tiền 4.000.000 đồng không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về số tiền 300.000 đồng do bị cáo D23 được từ việc bán chiếc điện thoại đây là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, do đó cần buộc bị cáo phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Trước và sau thời điểm phạm tội, bị cáo Đ có nghề nghiệp và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]Các vấn đề khác:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y2ls màu xanh đen bên trong có 01 sim điện thoại số 0972.793.xxx. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm chiếc điện thoại nói trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 con dao rựa dài khoảng 50cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, mũi dao cong. Quá trình điều tra, Nguyễn Minh D13 trên đường bỏ chạy sau khi đã cướp được chiếc điện thoại di động của chị T12 vứt bỏ con dao trên. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thấy. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm con dao trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
- 01 xe mô tô hiệu Wave, màu xanh. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên “Cui” nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm xe mô tô trên, khi nào tìm được sẽ xử lý sau
Đối với đối tượng tên “Cui”, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Minh D16 quan điều tra đã triệu tập đối tượng tên Lai Ngọc T13– sinh năm 1979, trú tại phố A, ấp D, xã P, huyện Đ có nhân thân, đặc điểm nhận dạng như lời khai của D17 làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Tlkhai có quen biết với Nguyễn Minh D18 khoảng 02 năm nay đã không gặp Dđồng thời, T1khẳng định không cho D19 xe mô tô và không nhận 01 điện thoại di động từ Dnhư D20 khai. Khi Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Minh D21 dạng qua ảnh đối với Lai N1 T1thì Dxác định T1không phải là đối tượng tên “Cui” mà D20 khai. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Lai N1 T1Hiện Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người tên “Cui” mà D20 khai, khi nào tìm được sẽ điều tra, xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
- - Điều 47 Bộ luật hình sự.
- - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D24: “Cướp tài sản”
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh D11 phải nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh D11 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D25(bảy) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thị Thịnh |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh D phạm tội cướp tài sản
