|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:144/2024/HS-ST
Ngày 18 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Nguyễn Thị Thúy Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:146 /2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo.
-
Nguyễn Quang T, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1986; tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nghiêm Văn C và bà Nguyễn Thị H, có vợ là Nguyễn Thị Nghiêm M và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/7/2007 bị Chủ tịch UBND thành phố V đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 20/7/2009.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương (có mặt)
- Vũ Thị Ngọc V, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1982; tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn T1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị P; Chồng: Không có; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại tại địa phương (có mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình xác minh, giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã triệu tập Nguyễn Quang T, sinh năm 1986, trú tại: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố V lên làm việc. Tại Cơ quan Công an, T tự nguyện mở điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 Fa màu xanh của T, bên trong lắp Sim 1: 0335.570.658 và Sim 2: 0347.613.393. T truy cập tài khoản “Quang Trung" trong ứng dụng Zalo đăng ký bằng số thuê bao 0335.570.658 phát hiện tin nhắn đến tài khoản Zalo có lưu trên danh bạ của T “Chị V” có nội dung mua bán số lô, số đề ngày 14/3/2024. T khai nhận, ngày 14/3/2024, T đã sử dụng tài khoản Zalo “Quang Trung” của T để nhắn tin mua bán số lô, số đề với Vũ Thị Ngọc V, sinh năm 1982, trú tại: Thôn M, xã D, huyện T thông qua tài khoản Zalo “Chị V” đăng ký số thuê bao là 0904.185.638. Cơ quan Công an đã lập biên bản sự việc và triệu tập Vũ Thị Ngọc V đến trụ sở làm việc, thu giữ của V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A71 để điều tra làm rõ hành vi của Nguyễn Quang T và Vũ Thị Ngọc V, cụ thể như sau:
Do Vũ Thị Ngọc V thường xuyên ngồi uống nước tại quán nước của T tại khu vực đầu đường L, phường Đ, thành phố V nên qua nói chuyện, T rủ V đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề. T và V thỏa thuận với nhau: giá 01 điểm lô là 22.500đ, nếu V trúng, T phải trả 01 điểm lô tương ứng với 80.000đ và cứ 1.000đ tiền đề nếu trúng thì sẽ được hưởng 70.000đ. Căn cứ để xác định trúng số lô là đối chiếu với hai số cuối của các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy và trúng số đề là trùng với hai số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày vào lúc 18 giờ 15 phút. Nếu V không trúng số lô, số đề thì T được hưởng số tiền đã thỏa thuận bán số lô, số đề cho V.
Khoảng 17 giờ 54 phút ngày 13/4/2024, V sử dụng tài khoản Zalo “Lachongs” đăng ký bằng số điện thoại 0904.185.xxx, nhắn tin đến tài khoản Zalo “Quang Trung” đăng ký bằng số điện thoại 0335.570.xxx của T: “Đe đau 8x131n. Đau 6.2x100 đau 0.4x55n. Đit le x10n ghi hh lo 55 59 020x13đ. 95 141 757 393 535 232 161 181 242 090 969 00 11 898x2.5đ”. Có nghĩa là V mua của T:
- Các số đề đầu 8 gồm: 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89; tổng là 10 số đề, giá mỗi số đề là 131.000đ. Thành tiền 1.310.000đ.
- Các số đề đầu 6 gồm: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69; tổng là 10 số đề, giá mỗi số đề là 100.000đ. Thành tiền 1.000.000đ.
- Các số đề đầu 2 gồm: 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29; tổng là 10 số đề, giá mỗi số đề là 100.000đ. Thành tiền 1.000.000 đồng.
- Các số đề đầu 0 gồm: 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09; tổng là 10 số đề, giá mỗi số đề là 55.000đ. Thành tiền 550.000đ.
2
- Các số đề đầu 4 gồm: 40, 41, 42, 43, 45, 46, 47, 48, 49; tổng là 10 số đề, giá mỗi số đề là 55.000đ. Thành tiền 550.000đ.
- Các số đề đít lẻ gồm: 01, 03, 05, 07, 09, 21, 23, 25, 27, 29, 41, 43, 45, 47, 49, 61, 63, 65, 67, 69, 81, 83, 85, 87, 89; tổng là 25 số đề, giá mỗi số đề là 10.000đ. Thành tiền 250.000đ.
- Các số lô: 55, 59, 02, 20; tổng là 04 số lô, mỗi số lô ghi 13 điểm, mỗi điểm lô giá 22.500đ. Thành tiền 52 điểm lô là 1.170.000đ.
- Các số lô: 95, 14, 41, 75, 57, 39, 93, 53, 35, 23, 32, 16, 61, 18, 81, 24, 42, 09, 90, 96, 69, 00, 11, 89, 98; tổng là 25 số lô, mỗi số lô ghi 2,5 điểm. Thành tiền 62.5 điểm lô là 1.406.250đ.
Tổng số tiền mua bán các số lô, số đề trên là: 7.236.250 đồng.
Sau khi nhận được các tin nhắn của V, T đã nhắn tin lại: “Ok” xác nhận đồng ý đánh bạc với V. Tổng số tiền Nguyễn Quang T đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Vũ Thị Ngọc V trong ngày 14/03/2024 là 7.236.250 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày 14/3/2024 thì V trúng thưởng các số lô, số đề gồm: Số lô: 59 ghi 13 điểm trúng thưởng 02 lần là 26 điểm; Số lô: 02 ghi 13 điểm trúng thưởng 01 lần là 13 điểm; Số lô: 14 ghi 2,5 điểm trúng thưởng 02 lần là 5 điểm; Các số lô: 57, 18, 42, 09, 69, 11, 89 mỗi số ghi 2,5 điểm trúng thưởng 01 lần là 17,5 điểm. Tổng cộng số điểm lô trúng thưởng là 61,5 điểm, mỗi điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng; Tương ứng với số tiền trúng thưởng lô là 4.920.000 đồng. Số đề: 69 ghi 110.000 đồng, mỗi 1000 đồng tiền đề trúng thưởng sẽ được 70.000 đồng; Tương ứng với số tiền trúng thưởng đề là: 7.700.000 đồng. Tổng số tiền V trúng thưởng là: 12.620.000 đồng.
Như vậy, trong ngày 14/3/2024 Nguyễn Quang T và Vũ Thị Ngọc V đã sử dụng tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề là: 19.856.250 đồng. Toàn bộ số tiền mua và trúng thưởng số lô, đề này T và V đã thanh toán cho nhau xong.
Cùng ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số 998 và 999 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử: Trích xuất nội dung tin nhắn Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập ứng dụng Zalo trên điện thoại OPPO Reno2 Fa gửi giám định với tài khoản Zalo tên “Chị V” và T2 xuất nội dung tin nhắn Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập ứng dụng Zalo trên điện thoại Galaxy A71 gửi giám định với tài khoản Zalo tên “Quang T".
Tại bản Kết luận giám định số 1718/ KL-KTHSGĐ và 1719/KL-KTHS cùng ngày 13/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh V đối với 02 điện thoại thu giữ của Nguyễn Quang T và Vũ Thị Ngọc V kết luận: Chụp được 01 ảnh màn hình hiển thị nội dung tin nhắn mua bán số lô, đề từ ứng dụng Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập trên điện thoại với tài khoản Zalo tên “Chị V” và chụp được 01 ảnh màn hình
3
hiển thị nội dung tin nhắn mua bán số lô, đề từ ứng dụng Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập trên điện thoại với tài khoản Zalo tên “Quang Trung” nêu trên. Toàn bộ tin nhắn được thể hiện trong Phụ lục.
Ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Công văn gửi Tập đoàn C1 đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao, rút list tin nhắn đến, đi và cuộc gọi đến, đi đối với các số thuê bao: 0335.570.658 và 0347.613.393 thời gian từ ngày 13/03/2024 đến ngày 15/03/2024. Kết quả, Tập đoàn C1 cung cấp: “Số điện thoại 0335.570.xxx chủ thuê bao là Nguyễn Quang T; Số điện thoại 0347.613.xxx chủ thuê bao là Nguyễn Thị H, ngày sinh 24/10/1962, hộ khẩu thường trú: Đ, V, Vĩnh Phúc; Toàn bộ nội dung tin nhắn đi, đến của các số thuê bao nêu trên không hiển thị”.
Cùng ngày 12/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Công văn gửi Tổng Công ty V1 đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao, rút list tin nhắn đến, đi và cuộc gọi đến, đi đối với số thuê bao: 0904.185.638 thời gian từ ngày 13/3/2024 đến ngày 15/3/2024. Kết quả, Tổng Công ty V1 cung cấp: “Số điện thoại 0904.185.xxx chủ thuê bao là Vũ Thị Ngọc V; Toàn bộ nội dung tin nhắn đi, đến của các số thuê bao nêu trên không hiển thị”.
Tại Cáo trạng số: 148/CT-VKSVT ngày 19 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T và Vũ Thị Ngọc V về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58, Khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; bị cáo Vũ Thị Ngọc V từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo T là từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng; bị cáo V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung vào Ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Đối với số tiền 19.856.250 đồng dùng vào việc đánh bạc cần truy thu sung vào Ngân sách nhà nước. Trong đó đề nghị truy thu của Nguyễn Quang T số tiền 7.236.250 đồng của Vũ Thị Ngọc V số tiền 12.620.000 đồng.
- Đề nghị tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO Reno2 Fa của Nguyễn Quang T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Galaxy A71 của Vũ Thị Ngọc V.
4
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ 54 phút ngày 13/4/2024, tại phường Đ, thành phố V, Nguyễn Quang T có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Vũ Thị Ngọc V qua tin nhắn bằng ứng dụng Zalo trên điện thoại di động. Quá trình điều tra xác định, số tiền T và V đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề là 19.856.250 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Đánh bạc là tệ nạn xã hội, đồng thời còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, do đó, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm,vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.
5
Xuất phát từ mục đích hám lợi, các vị cáo nhận thức rõ đánh bạc ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Lô, đề” thì bị bắt giữ. Trong vụ án này hai bị cáo đánh bạc với nhau dưới hình thức chơi Lô, Đ, trong đó bị cáo V là người đánh (ghi đề) bị cáo T là người nhận ghi L, Đ nên hai bị cáo đều là người thực hành cùng tham gia đách bạc tích cực, do đó phải xử phạt nghiêm để làm gương cho người khác. Tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước, nhất thời phạm tội nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trước khi phạm tội bị cáo V có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, bị cáo T năm 2007 bị Chủ tịch UBND thành phố V đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, bị cáo đã chấp hành xong ngày 20/7/2009. Kể từ ngày chấp hành xong thời gian cai nghiện, bị cáo luôn chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật tại địa phương, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn thành khẩn, khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ phân tích trên thấy rằng các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội vì vậy cần chấp nhận đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000đồng để sung ngân sách Nhà nước. Xét thấy vì mục đích tư lợi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền nên cần phạt bị cáo một khoản tiền từ 10 đến 15 triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với số thuê bao di động 0347.613.393 đăng ký chủ thuê bao bà Nguyễn Thị H; Quá trình điều tra bà H khai bà không đăng ký và không sử dụng số thuê bao 0347.613.393, bà H không biết ai sử dụng thông tin cá nhân của bà để đăng ký tên số thuê bao trên, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO Reno2 Fa thu giữ của Nguyễn Quang T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Galaxy
6
A71 thu giữ của Vũ Thị Ngọc V, là công cụ T và V sử dụng vào việc đánh bạc, do vậy cần tịch thu bán phát mại, sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 19.856.250 đồng dùng vào việc đánh bạc cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước. Trong đó truy thu của Nguyễn Quang T số tiền 7.236.250 đồng (Làm tròn7.236.000đ) của Vũ Thị Ngọc V số tiền 12.620.000 đồng.
[6] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Thị Ngọc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Thị Ngọc Vi phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 01 (Một) năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc V 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Quang T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V; giao bị cáo Vũ Thị Ngọc V cho UBND xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt Nguyễn Quang T, Vũ Thị Ngọc V mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Truy thu của Nguyễn Quang T số tiền 7.236.250 đồng ( Làm tròn là bảy triệu hai trăm ba sáu nghìn đồng) của Vũ Thị Ngọc V số tiền 12.620.000 đồng ( Mười hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc sung vào ngân sách Nhà nước.
Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước của Nguyễn Quang T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 Fa; của Vũ Thị Ngọc V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Galaxy A71 sung vào ngân sách nhà nước.
7
Tất cả vật chứng và số tiền nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên lập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Thị Ngọc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Minh Ái |
8
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về đánh bạc
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang T và đồng phạm phạm tội đánh bạc
