|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 144/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Khon;
- Ông Nguyễn Hoàng Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Thị B, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ B, Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Đặng Thanh K, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị B trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phan Thị B và anh Đặng Thanh K qua thời gian quen biết, tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân vào năm 2017, nhưng anh chị không có đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, anh K có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, nhiều lần chửi bới chị B cũng như gia đình chị B, khiến cho tình cảm giữa chị B với anh K không còn, không hàn gắn lại được.
Nay nhận thấy việc chung sống không còn hạnh phúc và không còn ý nghĩa nên chị B yêu cầu ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị B và anh K có 02 con chung tên Phan Thị Cẩm T, sinh ngày 05/9/2018 và Phan Kim N, sinh ngày 22/10/2023. Hiện nay cháu T và cháu N đang sống với chị B. Chị B yêu cầu được nuôi dưỡng C và Kim N, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Thanh K đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh K không có văn bản ghi ý kiến về việc chị B yêu cầu ly hôn, nuôi con, đồng thời đều vắng mặt không có lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn chị B đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn anh K chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự như vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, cần rút kinh nghiệm.
Việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh K. Tiếp tục giao cháu Phan Thị Cẩm T, sinh ngày 05/9/2018 và Phan Kim N, sinh ngày 22/10/2023 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị B và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con. Bị đơn anh Đặng Thanh K có địa chỉ tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị B và anh K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, chị B vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị B và anh K theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Phan Thị B và anh Đặng Thanh K chung sống với nhau từ năm 2017, nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu anh chị chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nay chị B vẫn yêu cầu ly hôn với anh K vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, anh K không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh không có mặt để trình bày ý kiến.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị B và anh K có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn hòa hợp trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi, khiến cho tình cảm dần phai nhạt, tuy đã sống xa nhau thời gian dài nhưng cả hai không có biện pháp để tháo gỡ mâu thuẫn. Từ đó cho thấy đời sống chung giữa anh chị không còn hạnh phúc. Do chị B và anh K không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh chị là phù hợp với khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị B và anh K có 02 con chung tên Phan Thị Cẩm T, sinh ngày 05/9/2018 và Phan Kim N, sinh ngày 22/10/2023. Hiện cháu T, cháu N đang sống với chị B. Chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, anh K không có văn bản ghi ý kiến và không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung cháu T và cháu N sống với chị B, hai cháu được chăm sóc tốt, khỏe mạnh, môi trường sống của hai cháu đã ổn định. Để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của con chung nên cần giao cháu T và cháu N cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được trực tiếp nuôi 02 con chung là phù hợp với Điều 15, khoản 2 Điều 53, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị B không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, anh K không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa để trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu giải quyết, anh K không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa để trình bày ý kiến, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, các Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị B.
Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị B và anh Đặng Thanh K.
Về con chung: Chị Phan Thị B được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phan Thị Cẩm T, sinh ngày 05/9/2018 và Phan Kim N, sinh ngày 22/10/2023. Hiện 02 con chung đang sống với chị B. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị B không yêu cầu.
Chị B và anh K được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phan Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006622 ngày 21/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị B đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Nữ |
Bản án số 144/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 144/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, PHAN THỊ B - ĐẶNG THANH K
