|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 144/2024/HS-ST
Ngày 18-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 595/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Thanh T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: 94 H, Tổ D Phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và bà Đồng Thị H; có vợ là Bùi Thị Hoài T2 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2024; có mặt.
Bị hại:
Công ty TNHH A; địa chỉ: Số C đường T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Ông Furusawa Y – Chức vụ: Tổng giám đốc; đại diện theo uỷ quyền: Nguyễn Bảo L, sinh năm 1988 (Giấy uỷ quyền số AL/20241/087 ngày 30/08/2021); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, Bùi Thanh T cùng vợ là Bùi Thị Hoài T2, sinh năm: 1992, trú tại I H, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng và con là Bùi Minh H1, sinh năm 2019 đến Trung tâm thương mại A1 (viết tắt là Trung tâm thương mại) tham quan mua sắm. Khi vào trung tâm thương mại T và chị T2 lấy xe chở hàng và cùng đi chọn các sản phẩm trong siêu thị tại tầng 1 gồm: 01 dao gọt trái cây có nắp đậy, 03 khay chôm chôm nhãn, 01 khay quả xuân đào Úc, 01 hộp quà tết K – Lộc II, 03 gói đậu tẩm vị gạch cua, 01 vỏ gối cotton trơn màu hồng, 01 kem đa năng Shachi giảm ngứa mẩn đỏ, 01 hũ kem Sudocrem chống hăm trẻ em, 01 hộp yến chưng, 03 vì sữa chua uống Y1, 02 bịch giấy vệ sinh. Sau đó, T2 bế con đi tham quan gian hàng khác còn T đẩy xe chở hàng ra quầy thu ngân và lấy trong xe đẩy 02 bịch giấy vệ sinh, 01 vỉ sữa chua uống Yakult lên để thanh toán và được nhân viên thu ngân cho 02 bịch giấy vệ sinh, 01 vỉ sữa chua uống Y1 đã thanh toán tiền vào trong 02 túi nilon có dán tem thanh toán trên túi. T thấy nhân viên không hỏi những mặt hàng chưa thanh toán trong xe đẩy nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đẩy xe quay lại khu vực bên trong siêu thị, nhặt các sản phẩm còn lại trong xe đẩy cho vào trong 02 túi nilon đựng đồ thanh toán. Sau đó, T tiếp tục cùng vợ, con lên tầng 2 thăm quan mua sắm. Tại khu vực quầy thời trang Lamer, khi T2 lựa chọn 01 áo dài lụa màu xanh đưa cho T đi thanh toán, T cho áo vào trong xe đẩy ra đến gần khu vực quầy thanh toán, thấy vắng người Tuân cho áo dài vào túi ni lông đựng hàng hóa trộm cắp trước đó. Sau đó, T gọi vợ con ra về. Đến cửa số 8 Trung tâm thương mại thì bị nhân viên an ninh kiểm tra phát hiện, đưa T, T2 cùng toàn bộ tang vật đến Công an phường K để xác minh, làm rõ.
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Các sản phẩm gồm: 01 dao gọt trái cây có nắp đậy, 03 khay chôm chôm nhãn, 01 khay quả xuân đào Úc, 01 hộp quà tết K – Lộc II, 03 gói đậu tẩm vị gạch cua, 01 vỏ gối cotton trơn màu hồng, 01 kem đa năng Shachi giảm ngứa mẩn đỏ, 01 hũ kem Sudocrem chống hăm trẻ em, 01 hộp yến chưng, 02 vì sữa chua uống Yakult, 01 áo dài lụa màu xanh She's Back có tổng giá trị là 3.089.700 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Thanh T khai nhận: Khi T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản một mình, chị T2 không biết, T và chị T2 không bàn bạc với nhau.
Quá trình điều tra, anh Lê Văn L1 là bảo vệ trung tâm Aeon M khai: Anh L1 thấy T có biểu hiện nghi vẫn nên đã đi theo từ khi T lấy hàng ở siêu thị T3. Thời điểm T cho hàng chưa thanh toán vào túi nilon đã có tem thanh toán thì T thực hiện hành vi một mình.
Quá trình điều tra, chị Bùi Thị Hoài T2 khai: Do chị T2 không có việc làm nên T sẽ là người thanh toán hóa đơn mua hàng. Khi gặp anh T đẩy xe hàng ra ngoài khu vực siêu thị chị thấy hàng hóa đều ở trong túi sản phẩm đã thanh toán. Việc trộm cắp tài sản trong Trung tâm thương mại T không nói cho chị T2 biết, cũng không bàn bạc từ trước.
Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKSLC ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Bùi Thanh T về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Bùi Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i, h khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Thanh T mức án từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại là Công ty TNHH A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi trộm cắp tài sản:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 25/12/2023, tại Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng, Bùi Thanh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là các mặt hàng tiêu dùng tổng trị giá 3.089.700 đồng của Trung tâm thương mại A1. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi ngay trả cho bị hại, chưa gây thiệt hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, i và h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Về quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[6] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về trách nhiệm dân sự:
[7] Bị hại là Công ty TNHH A đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[10] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, quận K, thành phố Hải Phòng để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án trách nhiệm hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Bùi Thanh T.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thanh T trộm cắp tài sản
