Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 144/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Bẩy.

Ông Lãnh Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 129/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 380/TB-TA ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn K, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Đ và bà Vi Thị Q; Có vợ: Lường Thị B, sinh năm 1990 và con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2023 đến ngày 20/5/2023; bị bắt tạm giam từ ngày 12/7/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa của bị cáo: Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nông Văn H, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lường Thị B, sinh năm 1990. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng: Anh Vi Văn T, sinh năm 1981. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 12/5/2023, Hoàng Văn K, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, biển số 98K1-9579 của ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1959, trú tại thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là bố đẻ của K) để đi ăn đám giỗ. Đến khoảng 14 giờ, ngày 12/5/2023, sau khi uống rượu tại đám giỗ xong, K nhớ đến việc 06/01/2022 giữa K và anh Nông Văn H, sinh năm 1988, trú tại thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang xảy ra mâu thuẫn đánh nhau tại đám cưới nhà ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965, trú tại thôn C, xã C, huyện L, nên K nảy sinh ý định đi tìm anh H để trả thù. Sau đó K điều khiển xe mô tô đi về nhà lấy 01 con dao (loại dao mèo), có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, bản dao rộng 04cm, vỏ dao bằng gỗ, màu vàng nâu dài 73cm, rộng 6cm, ở gầm cầu thang của gia đình mang ra gài vào phía bên phải giá chở hàng của xe mô tô. Khoảng 15 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đến nhà anh H. Khi đến nơi, K dựng xe ở ngoài cổng, phía bên phải đường, đầu xe quay xuống dưới dốc. Kiểm xuống xe và đứng cách đuôi xe khoảng 50cm rồi K gọi anh H xuống nói chuyện. Lúc này anh H đang ở trong nhà, nghe thấy tiếng Kiểm gọi nên anh H đi ra cổng, đứng đối diện trước mặt K, cách Kiểm khoảng 01m. Thấy anh H, K liền quay lưng lại dùng tay phải rút con dao đang gài ở giá chở hàng của xe mô tô ra và vung lên chém từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào vùng má bên trái của anh H. Thấy anh H bị thương, K đút dao vào vỏ dao gài trên xe rồi điều khiển xe bỏ chạy về nhà. Còn anh H được gia đình đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện L, sau đó được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B và bệnh viện R, đến ngày 18/5/2023 được ra viện.

Cùng ngày 12/5/2023, Hoàng Văn K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 98K1 – 9579 và 01 con dao, loại dao mèo, có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, sắc một lưỡi và nhọn, bản dao rộng 04cm, có vỏ dao bằng gỗ, màu vàng nâu dài 73cm, rộng 06cm. Khi K đầu thú, cơ quan điều tra đã tiến hành đo nồng độ cồn của Hoàng Văn K qua hơi thở, kết quả: nồng độ cồn của K là 0.796mg/l khí thở.

Ngày 19/5/2023, anh Nông Văn H có đơn đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Văn K.

Ngày 12/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ án là tại khu vực cổng nhà anh Nông Văn H ở thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, kết quả khám nghiệm: Phía trước cửa nhà anh Nông Văn H là sân bê tông xi măng, có một lối đi từ đường giao thông liên thôn từ hướng B đi vào sân. Trên mặt đường giao thông liên thôn phía Tây ngoài cổng của nhà anh Nông Văn H phát hiện dấu vết máu dạng nhỏ giọt, kích thước đám máu trên diện (80x5)cm được ký hiệu số (1). T1 vị trí số (1) cách mép đường bên phải theo chiều N sang B là 1,2m. Phát hiện dấu vết máu dạng nhỏ giọt tại đường giao thông liên thôn ngoài cổng nhà Nông Văn Hiệu, kích thước trên diện (95x80)cm, được ký hiệu là vị trí số (2). T1 vị trí số (2) cách vị trí số (1) là 12,1m về hướng Bắc; cách mép đường bên phải theo chiều N sang B là 1,1m. Phát hiện dấu vết máu dạng nhỏ giọt, kích thước trên diện (70x30)cm, được ký hiệu là vị trí số (3). Vị trí số (3) nằm trên mép phải lối đi vào nhà anh Nông Văn H theo hướng nhìn từ đường liên thôn vào sân. T1 vị trí số (3) cách đường giao thông liên thôn 5,9m. Phát hiện dấu vết máu dạng nhỏ giọt tại dọc sân trước nhà anh Nông Văn H, kích thước trên diện (8,2x1,3)mét, được ký hiệu là vị trí số (4). T1 vị trí số (4) cách tâm vị trí số (3) là 17,5 mét; cách bức tường hướng T của nhà Nông Văn Hiệu là 9,1m. Phát hiện dấu vết máu dạng nhỏ giọt tại đường giao thông liên thôn ngoài cổng nhà Nông Văn Hiệu, kích thước trên diện (1,1x16,3) mét, được ký hiệu là vị trí số (5). T1 vị trí số (5) cách tâm vị trí số (1) là 2,4 mét; cách mép đường bên phải hướng Nam sang B là 1,8 mét. Quá trình khám nghiệm, cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu chất màu nâu đỏ nghi máu tại các vị trí số (1), (2), (3), (4), (5) và niêm phong theo quy định.

Tại Giấy chứng nhận thương tích của Trung tâm Y tế huyện L xác định: Nông Văn H vào viện hồi 17 giờ 15 phút ngày 12/5/2023, ra viện ngày 12/5/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Vết thương má trái sắc gọn, phức tạp, thấu khoang miệng kéo dài từ góc mép trái đến dái tai trái, dài khoảng 12cm.

Tại Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định: Nông Văn H vào viện ngày 12/5/2023, ra viện ngày 13/5/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Mặt sưng nề, biến dạng. Vết thương vùng má trái xuyên thấu khoang miệng từ mép môi trái đến trước nắp tai trái, đã khâu cầm máu, kích thước khoảng 12cm, bờ sắc gọn, đi qua vùng tuyến mang tai trái, nghi tổn thương thần kinh VII. Vết thương niêm mạc má trái đi qua lỗ đổ ống tuyến Stenon kích thước 03cm, lẫn nhiều dị vật mảnh xương hàm trên và răng 26, mảnh răng vỡ, đã cầm máu, có nhiều mảnh vụn xương vùng răng 25, 26. Còn răng 27, há miệng hạn chế. Chuyển Bệnh viện R điều trị tiếp.

Tại giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện R xác định: Nông Văn H vào viện ngày 13/5/2023, ra viện ngày 18/5/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Ngoài mặt sưng nề, bầm tím, biến dạng má T. Liệt VII nhánh môi trên trái, vết thương má T xuyên thấy tờ mép môi T đến trước nắp tai T, kích thước 12cm, bờ sắc gọn, đã được khâu cầm máu. Trong miệng, vết thương niêm mạc kích thước 3x2cm, đi qua lỗ ống tuyến stenon T, lẫn mảnh răng 26 vỡ. Xquang: Hình ảnh gián đoạn hàm trên trái qua R 26 và phía trước gai bướm. Gián đoạn mỏm vẹt xương hàm dưới trái.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương số: 1413/23/KLTTCT-TTPY ngày 14/05/2023 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B, Kết luận: Thương tích vết thương đã khâu má trái: 06%. Thương tích do vật sắc gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.

Ngày 15/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Hoàng Văn K thực nghiệm điều tra theo lời khai của bị can, bị hại và người làm chứng.

Ngày 19/6/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của anh Nông Văn H. Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 1510/23/KLTTCT-TTPY ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết sẹo vùng má trái kích thước trung bình + Đứt thần kinh VII và ống Stenon trái + Vỡ xương ổ răng hàm trên qua R26 + Gãy mỏm vẹt trái + Lấy bỏ các mảnh R26, 27 vỡ và các mảnh xương ổ răng hàm trên trái vỡ vụn, diệt tủy R25 gãy ngang thân + Khám thần kinh vận động: Tổn thương nhánh dây thần kinh VII trung ương bên trái + Khám răng hàm mặt: Mặt không cân đối, sẹo mổ cũ vùng vết thương má trái, liền tốt, ấn đau nhẹ. Vùng niêm mạc má trái sẹo liền tốt, không thấy lỗ đổ ống Stenon. Bệnh nhân giảm tiết nước bọt, khô miệng, ăn nhai hạn chế. Há miệng hạn chế + CT - Scanner hàm mặt: Gãy xương hàm trên trái qua ổ răng 2.6 và 2.7; mất răng 2.6 và 2.7; gãy vát sát chân răng 2.5; vỡ mỏm vẹt xương hàm dưới trái: 41 %.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số : 22/2019/ TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nông Văn H tại thời điểm giám định là: 41 % ( Bốn mươi mốt phần trăm).
  3. Kết luận khác:
    • - Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích do vật sắc gây nên.
    • - Không xác định được thương tích trên mặt của Nông Văn H có phải vùng trọng yếu trên cơ thể hay không.
    • - Không xác định được thương tích trên mặt của Nông Văn H có dẫn đến hậu quả chết người hay không.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số: 1510B/23/KLTTCT-TTPY ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra và vật gửi giám định kết luận:

  • - Theo tình huống thực nghiệm điều tra của Hoàng Văn K (bị can), Nông Văn H (bị hại), Vi Văn T (người làm chứng): Hoàng Văn K sử dụng con dao, loại dao mèo, tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm màu vàng nâu, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, một lưỡi sắc, đầu nhọn, bản dao rộng 04cm; vỏ dao bằng gỗ, màu vàng nâu, dài 73cm, rộng 6cm (con dao gửi giám định) gây được thương tích trên cho Nông Văn H.
  • - Chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Lực tác động mạnh gây nên thương tích.

Tại bản Kết luận giám định số: 956/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

  • - Trong các mẫu được niêm phong trong phong bì Công an huyện L dán kín, ký hiệu “M1”, “M2”, “M3”, “M4”, “M5” (mẫu nghi máu thu tại vị trí số 1, 2, 3, 4, 5 hiện trường vụ án) gửi giám định: Đều có máu người, nhóm máu A.
  • - Trên 01 con dao, loại dao mèo, tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm màu vàng nâu, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, sắc một lưỡi và nhọn, bản dao rộng 04cm, có vỏ dao bằng gỗ màu vàng nâu dài 73cm, rộng 6cm được niêm phong, gửi giám định: Không phát hiện có dấu vết máu.

Kết quả xét nghiệm máu của anh Nông Văn H do Trung tâm Y tế huyện L thực hiện, xác định nhóm máu của anh H là nhóm máu A.

Đối với hành vi Nông Văn H và Hoàng Văn K có hành vi đánh nhau ngày 06/01/2022, do K bị thương nhẹ, không có đề nghị gì và đến thời điểm này đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H và K là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98K1-9579 do K sử dụng đi đánh đánh gây thương tích cho anh H. Quá trình điều tra xác định khi cho K mượn xe, ông Đ không biết K sử dụng chiếc xe trên để phạm tội. Đối với chiếc điện thoại OPPO do K giao nộp xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo đề nghị giao cho vợ là chị Lường Thị B nhận thay. Ngày 18/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho ông Đ và chị B.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07/6/2023, Hoàng Văn K và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Nông Văn H số tiền 120.000.000 đồng. Anh H đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì khác, đồng thời có đơn xin rút đơn và đề nghị giảm án đối với Hoàng Văn K.

Về vật chứng gồm: 01 con dao, loại dao mèo, có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, sắc một lưỡi và nhọn, bản dao rộng 04cm, có vỏ dao bằng gỗ, màu vàng nâu dài 73cm, rộng 6cm được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.

* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Do có mâu thuẫn từ trước nên chiều ngày 12/5/2023, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98K1-9579 đến nhà anh Nông Văn H để nói chuyện. Khi anh H ra cổng nhà thì K dùng 01 con dao mang theo từ trước chém một nhát vào vùng má trái của anh Nông Văn H. Sau khi chém, anh H bỏ chạy vào nhà, bị cáo không đuổi theo mà trở về nhà, sau đó đến công an xã đầu thú. Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho anh Hiệu số tiền 120.000.000 đồng. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lường Thị B (là vợ của bị cáo) trình bày: Chị và bị cáo đã bồi thường cho anh Nông Văn H số tiền là 120.000.000 đồng. Đối với số tiền này chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị.

Bị hại, người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ trong hồ sơ vụ án, bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai này.

* Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn K và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c, khoản 3, Điều 134; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn K từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ bị cáo bị tạm giam (từ ngày 12/7/2023), nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 12/5/2023 đến ngày 20/5/2023).
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47-Bộ luật Hình sự; Điều 106-Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao, loại dao mèo có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, sắc một lưỡi và nhọn, bản sao rộng 04cm, có vỏ dao bằng gỗ màu vàng nâu dài 73cm, rộng 06cm.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136-Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Văn K không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Người bào chữa của bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí về bản Cáo trạng, tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54-Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức dưới khung hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

* Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 15 giờ ngày 12/5/2023 tại cổng nhà anh Nông Văn H ở thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do có mâu thuẫn cá nhân, Hoàng Văn K, sinh năm 1987, trú quán thôn C, xã C, huyện L đã có hành vi côn đồ, dùng 01 con dao (loại dao mèo), có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, bản dao rộng 04cm (là hung khí nguy hiểm) chém một nhát vào vùng má trái của anh Nông Văn H. Hậu quả gây thương tích cho anh H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 41% sức khỏe.

[4] Về áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134-Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[5] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Do mâu thuẫn cá nhân từ trước, Hoàng Văn K đã có hành vi sử dụng con dao, loại dao mèo chém một nhát vào vùng má bên trái của anh Nông Văn H, gây nên thương tích cho anh H có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 41%. Qua đó thể hiện bị cáo là người coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật của Nhà nước. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng, cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

[6.1] Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn K là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[6.2] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo Hoàng Văn K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52-Bộ luật Hình sự.

[6.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51-Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.

[7] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng Điều 38- Bộ luật Hình sự bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nói chung. Mức hình phạt tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được chấp nhận. Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; nếu xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ không đủ nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa cho bị cáo.

[8] Về những vấn đề khác: Đối với hành vi Nông Văn H và Hoàng Văn K có hành vi đánh nhau ngày 06/01/2022, do K chỉ bị thương nhẹ, không có đề nghị gì. Hành vi của H đã vi phạm quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7- Nghị định 144/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên hành vi trên đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1, Điều 6- Luật Xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Bị hại anh Nông Văn H đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với số tiền chị Lường Thị B (là vợ bị cáo) bỏ ra để bồi thường cùng bị cáo, tại phiên tòa chị B không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, biển số 98K1-9579 là tài sản của ông Hoàng Văn Đ. Quá trình điều tra xác định khi cho K mượn xe, ông Đ không biết K sử dụng chiếc xe trên để phạm tội. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại F1S, mặt lưng màu hồng bị vỡ mặt kính trước, đã qua sử dụng là tài sản do K giao nộp xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo đề nghị giao cho vợ là chị Lường Thị B nhận thay. Ngày 18/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu, lần lượt là ông Hoàng Văn Đ và chị Lường Thị B là có căn cứ.

Đối với 01 (một) con dao, loại dao mèo, tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, sắc một lưỡi và nhọn, bản sao rộng 04cm, có vỏ dao bằng gỗ, màu vàng nâu dài 73cm, rộng 6cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 47- Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo Hoàng Văn K không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là thành viên hộ cận nghèo và là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333-Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 3, Điều 134; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, khoản 1, Điều 47-Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ bị cáo bị tạm giam (từ ngày 12/7/2023), nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 12/5/2023 đến ngày 20/5/2023).
  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao, loại dao mèo có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, sắc một lưỡi và nhọn, bản sao rộng 04cm, có vỏ dao bằng gỗ màu vàng nâu dài 73cm, rộng 06cm.
  3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn K không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9- Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 144/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng hơn 15 giờ ngày 12/5/2023 tại cổng nhà anh Nông Văn H ở thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do có mâu thuẫn cá nhân, Hoàng Văn K, sinh năm 1987, trú quán thôn C, xã C, huyện L đã có hành vi côn đồ, dùng 01 con dao (loại dao mèo), có tổng chiều dài 85cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 65cm, bản dao rộng 04cm (là hung khí nguy hiểm) chém một nhát vào vùng má trái của anh Nông Văn H. Hậu quả gây thương tích cho anh H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 41% sức khỏe.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger