Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8-2024

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị An Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Dương; Ông Đàm Kiến Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Gò Công.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Trường Bảo Vy, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 175c/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1982; (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G trình bày: chị và anh Nguyễn Văn T quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G( thị xã G) nay thành phố G, Tiền Giang vào năm 2004. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm, không còn hàn gắn được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh ngày 02/4/2004 đã trưởng thành, Nguyễn Trần K, sinh ngày 14/02/2009, hiện nay chị G đang chăm sóc và nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, chị G yêu cầu tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T không đến để trình bày ý kiến về việc xin ly hôn và nuôi con chung, cũng như tài sản chung. Mặc dù chị anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Tại phiên tòa:

- Chị Trần Thị Ngọc Giàu có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng Thông báo thụ lý, thông báo thu thập tài liệu chứng cứ, triệu tập mời hòa giải, dự phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh T vẫn vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Đương sự G đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Riêng đương sự T đã từ bỏ quyền tố tụng và không chấp hành nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị G được ly hôn với anh T; Về con chung cháu Nguyễn Trần K, sinh năm 2009, hiện đang do chị G trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, theo yêu cầu của chị G mong muốn trực tiếp tiếp tục nuôi con và cũng đáp ứng theo nguyện vọng của cháu vẫn mong muốn được chị G tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị Giàu có điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Mặt khác anh T không có ý kiến tranh chấp nuôi con căn cứ theo Điều 81, 82, 83 đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị G.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị G trình bày không có, nếu sau vụ án này, anh T chứng minh được có tài sản chung và nợ chung với anh T sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí sơ thẩm thì chị G chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Trần Thị Ngọc G khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú Ấp S, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Gò Công thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, chị Giàu có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Chị G và anh T sau khi sống chung một thời gian, chị G và anh T thường phát sinh cãi nhau, anh chị đã ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Chị G xin ly hôn, anh T nhận được thông báo thụ lý, 02 lần thống B, nhưng anh không có ý kiến phản hồi và mong muốn tòa hòa giải để vợ chồng anh trở lại đoàn tụ. Điều này chứng minh rằng anh không còn muốn níu kéo cuộc hôn nhân này và không còn tha thiết cùng chung sống với chị G, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cho chị G được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.1] Về con chung: Vợ chồng chị, có một con chung chưa thành niên, chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện nuôi con của chị G làm công nhân có thu nhập có điều kiện nuôi con, đồng thời chị G cũng không có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T cũng không có ý kiến về việc nuôi con chung và cũng đáp ứng nguyện vọng của cháu Nguyễn Trần K mong muốn chị G tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, nên giao con cho chị G tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp với Điều 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về tài sản chung: chị G xác định không có, anh T không phản hồi ý kiến tranh chấp chia tài sản chung với anh T trong vụ án này. Nếu sau này anh T có yêu cầu chia tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[2.3] Về nợ chung: chị G xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị G và anh T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Trần Thị Ngọc G chịu án phí theo quy định.

[4] Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc G.

  • - Về hôn nhân: chị Trần Thị Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Văn T

Về con chung: chị Trần Thị Ngọc G được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Trần K, sinh ngày 14/02/2009, chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Khi án có hiệu lực pháp luật nếu xét thấy cần thiết chị G và anh T có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng.

Về án phí sơ thẩm: chị Trần Thị Ngọc G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0000823 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, chị G đã nộp xong án phí.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Án T1 kết thúc cùng ngày

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công;
  • - UBND xã Trân Trung, thành phố Gò Công, Tiền giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ. án văn. 09.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị An Thư

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 144/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1982; (Xin vắng mặt) Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. - Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; (Vắng mặt) Địa chỉ: ấp S, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger