Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------

Bản án số: 144/2024/HSST

Ngày: 16/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Định Quốc

- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình P; Giới tính: Nam; Sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Thuận; ĐKHKTT: khu phố A, phường P, thành phố P; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình L (đã chết) và bà Phạm Thị L1 (đã chết); Có vợ tên Mai Thị N, sinh năm 1987 (không đăng ký kết hôn) và 01 người con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Ông Lê Văn L2 – sinh năm 1982 (có mặt)

Trú tại: Khu phố D, P, P, Bình Thuận.

* Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn T – sinh năm 1991 (vắng mặt)
  2. Trú tại: Khu phố D, P, P, Bình Thuận.

  3. Ông Lê Văn M – sinh năm 1995 (vắng mặt)
  4. Trú tại: Khu phố D, P, P, Bình Thuận.

  5. Ông Lê Văn N1 – sinh năm 1984 (vắng mặt)
  6. Trú tại: Khu phố D, P, P, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 14/02/2023, Mạc Ngô Anh T1 cùng Nguyễn Thị Phước D (là vợ của T1) đến nhà của Lê Văn T (để lấy tiền nợ. Tại đây, T đưa 100.000 đồng và nói: “mấy ngày sau đi biển, khi nào vào thì gửi”, T1 không đồng ý nên T1 và D đi về lại nhà. Khi T1 về tới nhà thì T gọi điện thoại chọ T1 nói: “giờ tao không có tiền, mày làm gì tao thì làm đi”, rồi T tắt máy. Lúc này T1 đang ngồi trước nhà thì H bò (chưa rõ nhân thân) là bạn của T1 đi ngang qua, T1 có kể lại sự việc đi đòi nợ bị T thách đố cho H nghe thì H bò lấy điện thoại gọi vào số thuê bao 0962.434.551 của Nguyễn Đình P và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân) rủ đến nhà của T1, rồi cùng đến nhà của T để giải quyết mâu thuẫn thì P và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân) đồng ý. Sau đó, H bò điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển số) chạy đến nhà của P tại khu phố A, phường P, thành phố P chở P đến nhà của T1. Khi H bò chở P đến nhà của T1 thì 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân) cũng tới nhà T1, Lúc này T1, H bò, P và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân) cùng đi đến nhà của T. Khi đến nơi, nhóm của T1 đi vào nhà của T thì T đi ra đẩy T1 không cho T1 vào nhà, giữa T1 và T cãi nhau qua lại thì Lê Văn L2, Lê Văn N1 và Lê Văn M là anh em ruột của T ở gần đó đến can ngăn, L2 đòi gọi thêm người đến đánh nhóm T1 nên T1 nói cả nhóm đi về.

Trên đường đi về, nhóm của T1 đi đến quán nhậu ở khu vực đường H để nhậu. Trong lúc đang ngồi nhậu thì L2 gọi điện thoại cho T1 nói: “Tiền của tao đéo đưa mày nữa, mày làm gì tao”, nghe xong T1 kể lại cho H bò nghe, H bò rủ cả nhóm đi đánh L2, cả nhóm đồng ý. Trên đường đi, H bò gọi thêm 06 đối tượng khác (chưa rõ nhân thân) tập trung tại công viên V (đối diện nhà của T1) để đi đến nhà của L2. Khi cả nhóm đến công viên V thì gặp 06 đối tượng do H gọi đã đến. Tại đây, T1 hỏi cả nhóm “có thằng nào cầm theo đồ để đánh nhau không” thì H bò nói lại “Có 02 cây dao tự chế”. Sau đó, T1 cùng cả nhóm đi đến nhà của L2, thấy L2 đang ngồi nhậu thì T1 đi tới gặp L2, cả hai đang nói chuyện thì H bò cầm 01 cây dao tự chế chém 01 nhát vào lưng của L2 gây trầy xướt da, L2 lấy 02 vỏ chai bia ném về phía nhóm của T1, nhóm của T1 bỏ chạy nên L2 đi về thì bất ngờ nhóm của T1 quay lại rượt đuổi L2, L2 bỏ chạy được 1 đoạn thì bị té ngã xuống, cùng lúc T1 chạy đến dùng chân đạp, đá vào người của L2 02 cái thì người dân ở gần đó la lớn nên nhóm của T1 bỏ đi.

Lượm bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu.

Vật chứng của vụ án:

  • - Thu giữ từ Nguyễn Đình P:
    • + 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 46,5cm;
    • + 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 46,8cm;
  • - Lê Văn M giao nộp: 01 USB màu xanh, ký hiệu Micro SD 2.0, có chứa 01 thẻ nhớ màu đen xanh, ghi lại hình ảnh sự việc đánh nhau vào ngày 14/02/2023

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 479 ngày 04/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Lê Văn L2:

1. Các kết quả chính:

- Chấn thương bụng kín vỡ bàng quang đã được phẫu thuật điều trị, hiện đã ổn định, tiểu bình thường, để lại sẹo vết mổ trên và dưới rốn kích thước (14,5 x 1)cm, sẹo vết dẫn lưu vùng hố chậu phải kích thước (1,2 x 0,8)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% + 3% + 2%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn L2 tại thời điểm giám định là 25%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

  • + Chấn thương do vật tày gây ra.
  • + Chấn thương có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau.

Xử lý vật chứng và dân sự:

  • - 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 48,5cm và 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 46,8cm là hung khí của vụ án, Viện kiểm sát thành phố P ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để bảo quản, chờ xử lý.
  • - 01 USB màu xanh, ký hiệu Micro SD 2.0, có chứa 01 thẻ nhớ màu đen xanh, ghi lại hình ảnh sự việc đánh nhau vào ngày 14/02/2023, được lưu cùng hồ sơ để phục vụ xét xử.

Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Nguyễn Đình P về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P mức án từ hai năm 24 tháng đến 30 tháng tù.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/02/2023, tại khu phố D, phường P, thành phố P. Bực tức việc Lê Văn L2 không trả tiền nợ mà còn có hành vi thách thức nên Mạc Ngô Anh T1 rủ H bò (chưa rõ nhân thân), Nguyễn Đình P và 8 đối tượng khác (chưa rõ nhân thân) có hành vi dùng 02 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen chém Lê Văn L2, rượt đuổi L2 làm L2 té ngã thì T1 dùng chân đá vào người của L2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo ý thức được sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ thế nhưng chỉ vì tánh a dua, bốc đồng bị cáo đã nghe theo lời rủ rê của Mạc Ngô Anh T1 cùng kéo nhau đi kiếm người bị hại để gây thương tích làm cho anh Lê Văn L2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Mạc Ngô Anh T1 là người khởi xướng; Mạc Ngô Anh T1, H bò là người trực tiếp gây ra thương tích cho Lê Văn L2; Mặc dù bị cáo Nguyễn Đình P và 08 đối tượng khác không phải là người trực tiếp gây thương tích cho người bị hại nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với hành vi và hậu quả đã gây ra với vai trò là người giúp sức trong vụ án.

Hành vi của bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ. Đồng thời đối với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

T2 cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết

[6] Biện pháp tư pháp:

  • + Về xử lý vật chứng: Tại hiện trường vụ án cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 46,5cm và 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 46,8cm là là vật bị cáo và bị hại cầm để đánh nhau. Đây là vật chứng của vụ án, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 USB màu xanh, ký hiệu Micro SD 2.0, có chứa 01 thẻ nhớ màu đen xanh, ghi lại hình ảnh sự việc đánh nhau vào ngày 14/02/2023, được lưu cùng hồ sơ để phục vụ xét xử.
  • + Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa người bị hại xác định đã được gia đình Mạc Ngô Anh T1 bồi thường nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác: Hưng bò và 08 đối tượng khác do chưa xác định được nhân thân và Mạc Ngô Anh T1 đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án, ra Quyết định truy nã đối với T1 để xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • - Xử phạt: Nguyễn Đình P 02 năm tù (Hai năm tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  • - Biện pháp tư pháp:
    • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu đen, kích thước 48,5cm và 01 cây dao tự chế bằng kim loại màu đen, tay cầm ép gỗ màu nâu, kích thước 46,8cm là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 147 ngày 12/7/2024)
    • + Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Đình P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bị hại. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo, người bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tp Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 144/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger