|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 16-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Văn Giản
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Đ, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1995; nơi sinh tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Số A đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số B đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.; số căn cước công dân: [...]; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị Thu C; gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ hai; vợ: Vũ Diệu L (đã ly hôn); có 01 con; tiền án: Ngày 15-6-2021, bị cáo Trần Văn Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 21 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02-12-2022; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 30-4-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Anh T1 và anh Hoàng Vũ C1 (không triệu tập đến phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 21-4-2024, tổ công tác Công an phường H, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà H đường H, phường Q, thành phố N phát hiện Trần Văn Đ đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, Đức thả từ tay trái xuống đất 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2x3) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Đ khai là ma túy tổng hợp dạng đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn Đ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của bị cáo Trần Văn Q. Tại bản kết luận giám định số 783/KL - KTHS ngày 26-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2x3) cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,330 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Đ khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 21-4-2024, Đ đi bộ từ nhà đến khu vực Sân vận động T2, phường V, thành phố N gặp một người đàn ông (chỉ biết tên là H, không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, H đồng ý. Khoảng 30 phút sau, Đ đi bộ đến ngõ H H, phường Q, thành phố N đưa cho H 300.000 đồng, H đưa cho Đ 01 túi ma túy đá. Đ cầm túi ma túy trong tay trái, đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 147/CT-VKSND-TPNĐ ngày 26-6-2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Văn Đ tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn Đ tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 783/GDKTHS.
Bị cáo Trần Văn Đ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Đ trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21-4-2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 21-4-2024; Bản kết luận giám định số 783/KL-KTHS ngày 26-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 21-4-2024, tại khu vực trước cửa số nhà H đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Trần Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,330 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ với mục đích để sử dụng là 0,330gam nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn Đ có một tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xoá án tích tuy nhiên lại tiếp tục phạm tội vì vậy bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng “tái phạm” tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Đ là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Văn Đ không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Văn Đ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng tên H bán ma túy cho bị cáo Trần Văn Đ, do tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để điều tra, xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo Trần Văn Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử lý vật chứng:
- Án phí hình sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo:
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21-4-2024.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy tại phong bì niêm phong số 783/GĐKTHS. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-6-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định)
Bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
Bị cáo Trần Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Văn Đ có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Kim Huế |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Lương Thị Kim Huế
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đức phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
