Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HS-ST

Ngày 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thi

Ông Vũ Văn Minh

áng Phong - Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 130/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Việt H, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2003, tại Hải Phòng; Nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị Hoa H1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/12/2023; có mặt.
  2. Lưu Quang H2, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1996, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn C và bà Trịnh Thị H3; có vợ là Bùi Thanh T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 08/12/2023, Tổ công tác Công an huyện A phát hiện, bắt quả tang Phạm Việt H đang có có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo nổ) tại thôn F D, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng bao gồm: 04 (bốn) cuộn các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, bịt kín hai đầu, kích thước cao khoảng 5cm, đường kính 2cm, liên kết với nhau thành dải, có dây dẫn ở giữa, dạng bang kép (hai dải một băng) (mẫu QT01); 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 15C1-325.25; 01 điện thoại Iphone 6S màu ghi.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Việt H tại thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng thu giữ: Một túi nilon chứa chất bột màu đen, khối lượng 0,35 kg (mẫu KX1); Một túi nilon chứa chất bột màu xám, khối lượng 0,12 kg (mẫu KX2); Một túi nilon chứa chất bột màu vàng, khối lượng 0,37 kg (mẫu KX3); Một túi nilon chứa chất bột màu trắng, khối lượng 0,03 kg (mẫu KX4); 06 đoạn dây vỏ ngoài bằng nilon, trong chứa chất chất bột màu đen, tổng độ dài 56 cm, khối lượng 2,2 gam (mẫu KX5) và một số găng tay nilon, giấy báo.

Tại bản kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận:

  • Các vật trụ tròn vỏ bằng giấy màu đỏ được bịt kín hai đầu, một đầu gắn dây dẫn cháy được liên kết với nhau thành 04 (bốn) dải kép và cuộn thành 04 (bốn) khối của mẫu QT1 gửi giám định là pháo nổ, tổng khối lượng 8,04 kg.
  • Chất bột màu đen của mẫu KX1 gửi giám định, có tổng khối lượng 0,35 kg là bột than (C), khi đốt hoặc kích thích không gây tiếng nổ.
  • Chất bột màu xám của mẫu KX2 gửi giám định, có tổng khối lượng 0,12 kg là thuốc pháo nổ, khi đốt tạo ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiều nhiệt, sinh khí và tạo ra áp suất lớn gây tiếng nổ.
  • Chất bột màu vàng của mẫu KX3 gửi giám định, có tổng khối lượng 0,37 kg là lưu huỳnh, khi đốt hoặc kích thích không gây tiếng nổ.
  • Chất bột màu trắng của mẫu KX4 gửi giám định, có tổng khối lượng 0,03 kg là thuốc pháo nổ, khi đốt tạo ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiều nhiệt, sinh khí và tạo ra áp suất lớn gây tiếng nổ.
  • Các đoạn dây của mẫu KX5 gửi giám định, tổng độ dài 56 cm, khối lượng 2,2 gam là dây cháy chậm (Ngòi pháo) có đặc điểm như sợi dây gắn vào các quả pháo của mẫu QT1.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Việt H khai nhận: Khoảng đầu tháng 12 năm 2023 thông qua mạng xã hội zalo, H nhận được điện thoại của 01 người tên S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) gọi điện cho Phạm Việt H hỏi mua 9m pháo nổ, loại băng pháo kép, với giá 500.000 đồng /1 mét, H đồng ý. Sau khi thoả thuận với S xong, H đã gặp và đặt mua của Lưu Quang H2 số lượng pháo trên với giá 400.000 đồng/1 mét. Chiều ngày 08/12/2023, tại nhà H2thôn H, xã A, H2 đã đưa cho H 04 (bốn) dải pháo nổ, mỗi dải gồm hai hàng pháo được cuộn lại và bọc nilon trong suốt, để trong bao tải dứa. H chuyển khoản trả trước 300.000 đồng cho H2 từ số tài khoản 66662838662003, mở tại ngân hàng M của H đến số tài khoản 5555551181996, mở tại ngân hàng M của H2. Số tiền còn lại H nợ H2. Sau khi nhận được pháo nổ, H chở về nhà ở cùng thôn cất giấu, rồi gọi điện thoại cho S hẹn 19 giờ cùng ngày đến khu vực cổng chào Thôn F D, xã T để nhận pháo. Khi H đang đợi S đến lấy pháo thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngoài ra, H khai nhận vào trước ngày bị bắt quả tang, H đã bán cho S 01 mét pháo nổ với giá 500.000 đồng vào khoảng giữa tháng 11/2023 ở cổng làng Thôn F D, xã T, huyện A. Số pháo này, H cũng mua của Lưu Quang H2 với giá 400.000 đồng. H sử dụng mạng xã hội Facebook gọi và nhắn tin cho H2 trao đổi việc mua bán pháo, khi giao dịch xong, H đã xóa nội dung tin nhắn. Vào dịp Tết năm 2023, H mua 10 quả pháo hoa nổ của Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1991, ở xã T, huyện A và đã sử dụng hết vào dịp Tết năm 2023.

Lưu Quang H2 khai nhận: Khoảng đầu năm 2023, thông qua mạng xã hội Facebook, H2 đã đặt mua của người không quen biết 9 (Chín) mét pháo nổ, dạng dải pháo có các viên hình trụ, kích thước đường kính 2cm, cao 5 cm, màu đỏ, vỏ giấy được đổ keo dính hai đầu, được kết vào dây dẫn cháy ở giữa, chiều dài mỗi dải pháo khoảng 2m, với giá 4.050.000 đồng để về sử dụng. Vào khoảng cuối tháng 11/2023, Phạm Việt H đến nhà và xin H2 01m pháo nổ để về chơi, H2 đồng ý. Ngày 08/12/2023, tại nhà H2thôn H, xã A, H hỏi xin 08 mét pháo còn lại, do không có nhu cầu sử dụng nữa nên H2 đã cho H. H2 không bàn bạc, thống nhất với H việc bán pháo cho người khác để kiếm lời. Quá trình điều tra, H2 thừa nhận số pháo nổ Cơ quan điều tra thu giữ của H là số pháo nổ H2 đã cho H vào ngày 08/12/2023 tại nhà H2.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho HH2 đối chất với nhau, tuy nhiên cả 02 bị can giữ nguyên nội dung khai nhận như đã nêu trên.

Cáo trạng số 147/CT-VKSAD ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố: Bị cáo Phạm Việt H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lưu Quang H2 về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Việt HLưu Quang H2 khai nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung nêu trên. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để bị cáo H có điều kiện chữa bệnh vì bị cáo đang bị bệnh viêm cầu thận phải thường xuyên khám và điều trị theo chỉ định của bác sỹ, vì bị cáo H2 là lao động duy nhất trong gia đình, vợ không có việc làm, con còn nhỏ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Việt H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và bị cáo Lưu Quang H2 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”:
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Việt H từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng, tính từ ngày tuyên án.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Quang H2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 5,47 kg pháo nổ, 0,2 kg bột than, 0,25 kg lưu huỳnh, thìa kim loại, giấy báo, túi nilong, các găng tay và vỏ gói mẫu vật; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6S.

  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản khám xét, phù hợp với Kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 12/12/2023 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu năm 2023, qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Quang H5 đã đặt mua 8,04kg pháo nổ về để sử dụng, bị cáo H5 cất giấu số pháo nổ trên tại chỗ ở tại thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau đó, H5 cho Phạm Việt H số pháo nổ trên. Ngày 08/12/2023, tại thôn F D, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, Phạm Việt H đang bán 8,04kg pháo nổ cho S (chưa xác định được nhân thân) thì bị bắt quả tang. Pháo nổ là hàng cấm nên hành vi bán pháo nổ với khối lượng 8,04kg của Phạm Việt H nhằm kiếm lời đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự; hành vi cất giấu 8,04kg pháo nổ của Lưu Quang H2 đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế; xâm phạm đến loại hàng hoá Nhà nước cấm kinh doanh. Do đó cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hồi cải; có đơn đề nghị của gia đình cam đoan quản lý giáo dục và có xác nhận của địa phương nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Nhân thân, hình phạt: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, động cơ phạm tội của bị cáo H xuất phát từ khó khăn của bản thân với mục đích kiếm tiền chữa bệnh cho bản thân; Từ khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì các bị cáo thực hiện tốt sự quản lý của gia đình, luôn chấp hành đùng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú có xác nhận của địa phương. Cho thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 và khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với 5,47 kg pháo nổ, 0,2 kg bột than, 0,25 kg lưu huỳnh là hàng cấm, thìa kim loại, giấy báo, túi nilong, các găng tay liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại Iphone 6S là tài sản của bị cáo H nhưng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới tên S mua pháo của Phạm Việt H, tài liệu điều tra không xác định được lai lịch; hành vi bán pháo của đối tượng Nguyễn Ngọc H4, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định H4 phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo Điều 190 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau. Đối với vật chứng thu giữ tại nhà H khi khám xét khẩn cấp, H khai H mua về để tập sản xuất pháo, tài liệu điều tra cho thấy tổng khối lượng nguyên liệu chế tạo pháo thu giữ chưa đủ cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo Điều 190 Bộ luật Hình sự, Cơ quan Công an đã hành xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Việt H.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Việt H phạm tội "Buôn bán hàng cấm".

    Xử phạt bị cáo Phạm Việt H 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Quang H2.

    Tuyên bố bị cáo Lưu Quang H2 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

    Xử phạt bị cáo Lưu Quang H2 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời giản thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Giao các bị cáo Phạm Việt HLưu Quang H2 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  • - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  • - Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau: Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
  • - Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
  1. Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.
  2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 5,47 kg mẫu vật pháo nổ, 0,2 kg bột than, 0,25 kg lưu huỳnh, thìa kim loại, giấy báo, túi nilong, các găng tay cùng thùng bìa niêm phong; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 6S màu xám (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Phạm Việt HLưu Quang H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện An Dương;
  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp T.P Hải Phòng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thị Liên

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 144/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hùng + Huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger