|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 14 - 6 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Y - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/HSST-QĐ ngày 15/5/2024 đối với:
Bị cáo: Họ và tên: Phan Công Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/11/1982; Nơi thường trú: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: Số nhà A, đường C, khối F, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng viên Đ3, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 197-QĐ/UBKTThU ngày 28/02/2024 của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy V; Con ông: Phan Văn H (đã chết) và bà: Lê Thị Đ1; Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1984; Con: Có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 20/3/2024 được trả tự do, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Anh: Trần Ngọc L, sinh năm: 1985
Trú tại: khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
-
Anh: Lê Văn P, sinh năm: 1990
Trú tại: khối E, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
-
Anh: Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1994
Trú tại: khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
-
Anh: Nguyễn Minh T, sinh năm: 1989
Trú tại: xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
-
Chị: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1984
Trú tại: số A đường C, khối F, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Hàn Quốc H1, sinh năm: 1988; Trú tại: khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Anh: Nguyễn Thọ T1, sinh năm: 1994; Trú tại: khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Anh: Nguyễn Như T2, sinh năm: 1989; Trú tại: xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Anh: Hồ Công T3, sinh năm: 1996; Trú tại: khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Anh: Trần Văn H2, sinh năm: 1992; Trú tại: khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/01/2024, Phan Công Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 màu đỏ, biển kiểm soát 37K-270.92 đến nhà bạn ở phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An để liên hoan. Quá trình liên hoan Đ có sử dụng rượu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe ô tô đi theo đường T để về nhà. Khi đến khu vực thuộc km 464 + 800, Quốc lộ A (Thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An) thì gặp Tổ công tác Đ4 - Trật tự Công an thành phố V (Gồm các đồng chí: đại úy H - Phó đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự chỉ huy tổ công tác; thiếu tá Trần Ngọc L – tổ trưởng; thiếu tá Nguyễn Thọ T1, đại úy Lê Văn P, trung úy Hồ Công T3, đại úy Trần Văn H2, đại úy Nguyễn Minh T, thượng úy Nguyễn Hoàng A và đại úy Nguyễn Như T2) đang làm nhiệm vụ tuần tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn và xử lý các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông (Theo kế hoạch số 2736/KH-CATP-GTTT ngày 28/12/2023 và phương án số 89/PA-CATP-GTTT ngày 15/01/2024 của Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An). Khi Đ điều khiển xe ô tô đi vào khu vực chốt kiểm tra thì đồng chí Nguyễn Minh T dùng gậy chỉ huy giao thông và đèn, còi ra hiệu lệnh cho xe của Đ đi chậm lại và hướng dẫn xe đi vào làn kiểm tra nồng độ cồn. Khi phát hiện thấy lực lượng Cảnh sát giao thông, Đ không chấp hành theo hiệu lệnh mà cho xe lùi, sau đó điều khiển xe quay đầu đi ngược chiều về hướng khách sạn P1 mục đích để bỏ chạy, không chấp hành đo nồng độ cồn theo quy định. Lúc này, đồng chí Nguyễn Minh T cùng đồng chí Trần Ngọc L (Tổ trưởng) và đồng chí Nguyễn Hoàng A đến đứng trước đầu xe, chặn xe lại và tiếp tục ra hiệu lệnh yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn, nhưng Đ không chấp hành. Thấy vậy, các đồng chí Trần Văn H2, Lê Văn P và Nguyễn Thọ T1 đến hỗ trợ nhưng Đ vẫn không chấp hành, nhấn ga điều khiển xe
đâm thẳng vào người các đồng chí Hoàng A, đồng chí L và đồng chí Phi buộc ba đồng chí phải nhảy tránh sang một bên. Hành vi này của Phan Công Đ đã cản trở, làm cho các đồng chí trong tổ công tác không thực hiện được nhiệm vụ. Sau khi Phan Công Đ điều khiển xe chạy ngược chiều trên đường T hướng về khách sạn P1 thì các đồng chí Hàn Quốc H1 và Nguyễn Thọ T1 đuổi theo. Lúc này, Đ điều khiển xe chạy tắt qua vòng xuyến Phương Đ2 vào đường T, rẽ vào đường L, tiếp tục rẽ vào đường L, sau đó rẽ vào đường C. Khi Đ điều khiển xe ô tô đến số 117, đường C (Trước nhà Đ), ở khối F, phường L, thành phố V thì tổ công tác đuổi kịp, tiến hành bắt giữ Đ và đưa về trụ sở về Công an thành phố V tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua kiểm tra nồng độ cồn phát hiện trong hơi thở của Đ có nồng độ cồn 0,399 mg/1 khí thở, vi phạm khoản 8, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Tại Cơ quan điều tra Công an thành phố V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 110/CT-VKS-TPV ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Vinh để xét xử bị cáo Phan Công Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1, Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1, Điều 330; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Công Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 của BLTTHS, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu đỏ, số máy P20678027; số khung: NR2B14AA6LM034342, biển kiểm soát 37K-270.92, đăng ký mang tên Phan Công Đ. Vật chứng hiện có tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh. Về án phí: đề nghị áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét trả lại xe ô tô Mazda 3, màu đỏ, biển kiểm soát 37K-270.92 cho bị cáo do đây là tài sản chung của vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Cơ quan điều tra Công an thành phố V và Điều tra viên; Của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, truy tố. Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các văn bản, tài
liệu, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện có tại hồ sơ vụ án là đúng quy định pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng họ đều vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX căn cứ vào các Điều 292, 293 của BLTTHS vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung:
[4] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo Phan Công Đ đã khai nhận hành vi của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, nội dung cáo trạng đã truy tố, vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, báo cáo sự việc, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 21/01/2024, Phan Công Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 màu đỏ, biển kiểm soát 37K-270.92 đi vào đường T, thuộc địa phận khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An hướng về ngã tư chợ V1. Khi Đ đi đến K+800 Quốc lộ A (đường T) phát hiện thấy chốt kiểm tra nồng độ cồn do tổ công tác Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ. Lúc này đồng chí Nguyễn Minh T dùng gậy chỉ huy giao thông, đèn và còi ra hiệu lệnh cho xe của Đ đi chậm lại và hướng dẫn xe đi vào làn kiểm tra nồng độ cồn, thì Đ không chấp hành theo hiệu lệnh mà điều khiển xe lùi lại rồi quay đầu đi ngược chiều về hướng khách sạn P1 mục đích bỏ chạy, không chấp hành đo nồng độ cồn theo quy định. Thấy vậy, đồng chí Nguyễn Minh T cùng đồng chí Trần Ngọc L (Tổ trưởng) và đồng chí Nguyễn Hoàng A đến đứng trước đầu xe, chặn xe lại ra hiệu lệnh yêu cầu dừng xe, Đoàn vẫn không chấp hành mà nhấn ga điều khiển xe đâm thẳng vào người các đồng chí Hoàng A, đồng chí L và đồng chí P, buộc ba đồng chí phải nhảy tránh sang một bên, nhằm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của tổ công tác và tiếp tục điều khiển xe chạy về nhà ở số A, đường C thuộc khối F, phường L, thành phố V. Tại đây, tổ công tác đuổi kịp, tiến hành bắt giữ Đ và đưa về trụ sở về Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hành vi đó của Phan Công Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 330 của BLHS như Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính của người thi hành công vụ nói riêng, của cơ quan Nhà nước nói chung. Bị cáo nhận thức được hành vi lái xe ô tô đâm thẳng trực diện vào lực lượng Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ kiểm tra vi phạm nồng độ cồn là nguy hiểm cho xã hội, nhất là thời điểm trước tết Nguyên đán khi Nhà nước ta đang đẩy mạnh việc xử lý nghiêm vi phạm về nồng độ cồn. Ngoài ra còn có thể gây nguy hiểm về tính mạng, sức khỏe của những người đang thực hiện công vụ, nhưng do liều lĩnh và coi thường kỷ
cương pháp luật của Nhà nước nên đã cố ý phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bản thân bị cáo trong quá trình công tác có thành tích xuất sắc được tặng nhiều Bằng khen, chứng nhận danh hiệu Chiến sĩ giỏi và Giấy khen của Cục H3; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhì của Chủ tịch nước; Gia đình bị cáo có thân nhân có công với cách mạng (Bố bị cáo là thương binh) đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. Vì vậy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu đỏ, số máy P20678027; số khung: NR2B14AA6LM034342, biển kiểm soát 37K-270.92, đăng ký mang tên Phan Công Đ là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đây là tài sản chung của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên cần trả lại cho chủ sở hữu. Vật chứng hiện có tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 330; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Công Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Công Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 (mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Công Đ cho UBND phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu đỏ biển kiểm soát 37K-270.92, đăng ký mang tên Phan Công Đ, số máy P20678027; số khung: NR2B14AA6LM034342. Vật chứng có tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2024/169 ngày 14 tháng 5 năm 2024.
Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Công Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333; 334 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Anh Sơn |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Công Đ phạm tội chống người thi hành công vụ
