|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --- |
|
Bản án số: 144/2024/HNGĐ-ST Ngày 13-6-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Nguyễn Thị Luyến
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Đồng Khương D; nơi thường trú: Tổ dân phố A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số C đường W, quận N, thành phốToronto, bang O, Canada; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 28/12/2018. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn căng thẳng hơn từ tháng 11 năm 2023 khi anh D đi du học tại Canada, chị H cùng con vẫn sinh sống ở quê (phường H, quận D). Mỗi khi vợ chồng liên lạc với nhau thì đều xảy ra cãi vã do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, kinh tế. Không khí trong gia đình trở nên rất căng thẳng và nặng nề. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần song không đạt kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Đồng Khương D để nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị H và anh D có hai con chung là cháu Đồng Minh K, sinh ngày 01/6/2019 và cháu Đồng Minh K1, sinh ngày 06/01/2022. Ly hôn, chị H đề nghị giao cả hai con chung cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai, anh Đồng Khương D trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đồng Khương D và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 28/12/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng hơn khi anh D đi du học tại Canada từ tháng 11 năm 2023, chị H cùng con vẫn sinh sống ở phường H, quận D. Mỗi khi liên lạc với nhau thì vợ chồng đều xảy ra cãi vã, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, kinh tế. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần song không đạt kết quả. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên anh D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh D được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Anh D1 và chị H có hai con chung là cháu Đồng Minh K, sinh ngày 01/6/2019 và cháu Đồng Minh K1, sinh ngày 06/01/2022 hiện đang ở cùng chị H. Ly hôn, anh D1 đề nghị giao cả hai con chung cho anh D1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Đồng Khương D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn xin vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đồng Khương D. Về con chung, đề nghị giao hai con chung là cháu Đồng Minh K, sinh ngày 01/6/2019 và cháu Đồng Minh K1, sinh ngày 06/01/2022 cho anh Đồng Khương D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Đồng Khương D. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh Đồng Khương D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng, hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 28/12/2018. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và bị đơn, nhận thấy: Quá trình chung sống, chị H và anh D phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong việc phát triển kinh tế nên cả hai thường xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hòa giải mâu thuẫn giữa hai anh chị nhưng không đạt kết quả. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, đã ly thân nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn với nhau. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không tồn tại nên cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Đồng Khương D.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D có hai con chung là cháu Đồng Minh K, sinh ngày 01/6/2019 và cháu Đồng Minh K1, sinh ngày 06/01/2022. Ly hôn, chị H và anh D cùng đề nghị giao hai con chung cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, yêu cầu giao con chung cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị H và anh D về việc tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đồng Khương D.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Đồng Minh K, sinh ngày 01/6/2019 và cháu Đồng Minh K1, sinh ngày 06/01/2022 cho anh Đồng Khương D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D về việc tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đồng Khương D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000314 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Anh Đồng Khương D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phích |
| CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Phạm Mạnh Hùng | Nguyễn Thị Luyến | Phạm Văn Phích |
Bản án số 144/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 144/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
