|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 114/2024/DS-ST Ngày: 09/5/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Bá Xuân
2. Ông Nguyễn Hải Hà
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 223/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2024/QĐST- DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V- Tổng GĐ; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L - Giám đốc Ngân hàng N- Chi nhánh Đ (Theo Quyết định số 2665/QĐ-NHNo–PC “V/v ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án” do Tổng Giám đốc Ngân hàng N1 ký ngày 01/12/2022); Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Ngô Minh V1- Giám đốc phòng G T trực thuộc A chi nhánh Đ (Theo Quyết định số 2118/QĐ-NHNoĐHN-PC ngày 08/11/2023 “V/v ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án” của Giám đốc A chi nhánh Đ). (Ông V1 có mặt).
- Bị đơn: 1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988;
2. Ông Đặng Đình T1, sinh năm 1989.
Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP Y, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.
Bà H, ông T1 vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
1. Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là Ngân hàng N do ông Ngô Minh V1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng giao dịch Bà T cùng ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H đã ký 02 Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
- Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ký ngày 18/01/2023: theo đó Ngân hàng cho ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H vay số tiền là 500.000.000 đồng.
- Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ký ngày 07/02/2023, theo đó Ngân hàng cho ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H vay số tiền là 1.000.000.000 đồng.
Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông T1 và bà H theo thỏa thuận tại 02 hợp đồng tín dụng trên.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông T1, bà H chưa thanh toán trả cho Ngân hàng bất kỳ khoản tiền gốc nào và còn nợ lại toàn bộ số tiền gốc 1.500.000.000 đồng. Ông T1, bà H đã thanh toán trả số tiền lãi tạm tính đến hết ngày 20/06/2023 là 69.470.928 đồng, trong đó: Lãi đã thu của hợp đồng số 1421-LAV-202300009 là: 25.416.133 đồng; lãi đã thu của hợp đồng số 1421-LAV-202300010 là: 44.054.795 đồng.
Khoản nợ tại 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên phát sinh quá hạn trả nợ lãi từ ngày 21/07/2023 và chuyển nợ xấu. Mặc dù Ngân hàng thường xuyên đôn đốc ông T1, bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên đến nay bên vay không thực hiện trả nợ và không hợp tác với Ngân hàng.
Tính đến ngày 08 tháng 5 năm 2024, ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H còn nợ Ngân hàng theo 02 hợp đồng tín dụng nêu trên, chi tiết như sau:
- * Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023: Số tiền gốc còn nợ là 500.000.000 đồng; số tiền lãi còn nợ tạm tính đến ngày 08/5/2024 là 62.219.178 đồng, trong đó: Tiền lãi trong hạn là 53.095.890 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.123.286 đồng, tổng cộng là 562.219.178 đồng.
- * Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023: Số tiền gốc còn nợ là 1.000.000.000 đồng; số tiền lãi tạm tính đến ngày 08/5/2024 là 121.150.685 đồng, trong đó: Tiền lãi trong hạn là 106.191.781 đồng, tiền lãi quá hạn là 14.958.904 đồng. Tổng cộng là 1.121.150.685 đồng.
* Tài sản bảo đảm cho các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 nêu trên là:
Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021 cho ông Đặng Đình T1 và vợ là bà Nguyễn Thị H. Tài sản đã được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số công chứng 3188, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 được lập bởi Văn phòng C, thành phố Hà Nội. Tài sản trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận B ngày 01/7/2022.
Nay, ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H thực hiện trả nợ cho Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng giao dịch Bà T số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 đã ký kết ngày 18/01/2023 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 đã ký kết ngày 07/02/2023 tạm tính đến ngày 08/5/2024 là: 1.683.369.863 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 là 500.000.000 đồng, tiền lãi là 62.219.178 đồng; Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi là 121.150.685 đồng.
- Và tiền lãi phát sinh (theo lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng) kể từ ngày 09/5/2024 cho đến khi ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H trả hết nợ gốc lãi cho Ngân hàng.
- Trường hợp ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H không trả được nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Q tòa tuyên Ngân hàng N có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, tài sản cụ thể là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021 cho ông Đặng Đình T1 và vợ là bà: Nguyễn Thị H.
-
2. Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Đặng Đình T1 kết hôn năm 2007. Quá trình chung sống anh chị có thuê nhà ở nhiều nơi để ở nhưng không ổn định và chỉ thuê nhà trong một khoảng thời gian ngắn rồi sau đó anh chị chuyển nhà khác. Anh chị có đăng ký hộ khẩu thường trú tại TDP Y, phường L, quận B, thành phố Hà Nội. Khoảng tháng 4 năm 2023 anh T1 bỏ nhà đi mà không thông báo gì với chị. Từ đó đến nay, anh T1 không liên lạc gì về gia đình nên chị không biết hiện nay anh T1 đang sinh sống tại đâu. Bố mẹ anh T1 hiện đang sinh sống tại Hưng Yên và cũng không biết anh T1 hiện đang ở đâu. Trước khi anh T1 bỏ đi, anh chị có thuê nhà ở V, phường M, quận B, Hà Nội nhưng chị không nhớ địa chỉ cụ thể. Hiện nay chị cũng đang đi thuê nhà ở nơi khác. Đề nghị Tòa án xác định nơi cư trú của anh T1 là theo nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.
Đầu năm 2023 do có nhu cầu vay vốn làm ăn nên chị và anh Đặng Đình T1 có ký 02 Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N - Chi nhánh Đ - Phòng giao dịch Bà T cụ thể như sau:
- Ngày 18/01/2023, chị H và anh T1 có ký với Ngân hàng Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 với nội dung: Ngân hàng cho ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H vay số tiền là 500.000.000 đồng; thời hạn cho vay 12 tháng; mục đích vay để mua sắm đồ dùng sinh hoạt; lãi suất trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng là 12%/năm;
- Ngày 07/02/2023, chị H và anh T1 có ký với Ngân hàng Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 với nội dung: Ngân hàng cho ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H vay số tiền là 1.000.000.000 đồng; thời hạn cho vay 12 tháng; mục đích vay để mua sắm đồ dùng sinh hoạt; lãi suất trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng là 12%/năm.
Chị H xác nhận quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên: Chị và anh T1 đã được Ngân hàng giải ngân tổng số tiền là: 1.500.000.000 đồng. Tổng số tiền nợ gốc chị và anh T1 còn nợ Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng trên tạm tính đến ngày 10/11/2023 là: 1.500.000.000 đồng. Về số tiền lãi, chị và anh T1 đã nộp cho Ngân hàng đến hết ngày 20/06/2023 là 69.470.928 đồng, trong đó: Lãi đã thu của hợp đồng số 1421-LAV-202300009 là: 25.416.133 đồng; Lãi đã thu của hợp đồng số 1421-LAV-202300010 là: 44.054.795 đồng. Chị xác nhận khoản nợ tại 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn.
Tính đến ngày 10 tháng 11 năm 2023, chị và anh Đặng Đình T1 còn nợ Ngân hàng theo 02 hợp đồng tín dụng nêu trên só tiền cụ thể như sau:
- Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023: Số tiền nợ gốc phải trả: 500.000.000 đồng; số tiền nợ lãi phải trả: 23.506.849 đồng. Tổng cộng là: 523.506.849 đồng;
- Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023: Số tiền nợ gốc phải trả: 1.000.000.000 đồng; Số tiền nợ lãi phải trả: 47.013.699 đồng. Tổng cộng là: 1.047.013.699 đồng.
Tổng nợ phải trả của cả hai hợp đồng là 1.570.520.548 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; Số tiền nợ lãi: 70.520.548 đồng.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 nêu trên là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021 đứng tên anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H. Tài sản đã được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số công chứng 3188, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 được lập bởi Văn phòng C, thành phố Hà Nội. Tài sản trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận B ngày 01/7/2022.
Chị H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Nay chị không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, chị đồng ý để Ngân hàng phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ của chị và anh T1.
Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Đặng Đình T1.
* Tại Biên bản xác minh ngày 14/12/2023, đại diện Công an phường L, B, Hà Nội cung cấp:
anh Đặng Đình T1, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ dân phố Y, phường L, quận B, Hà Nội. Tuy nhiên, anh T1, chị H không ăn ở, sinh sống tại địa chỉ trên, anh T1, chị H ở đâu Công an chưa xác minh được.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 28 tháng 12 năm 2023, chị Nguyễn Thị H1 (đại diện gia đình anh T1) trình bày:
Chị là chị gái ruột của chị Nguyễn Thị H. Chị kết hôn với anh trai ruột của anh Đặng Đình T1. Từ tháng 4 năm 2023 anh T1 bỏ nhà đi đâu không thông báo với chị H và cũng không thông báo gì với bố mẹ chồng chị và gia đình nhà chồng chị cũng là gia đình nhà chồng của chị H. Từ đó đến nay, anh T1 không liên lạc gì với gia đình nên gia đình cũng không biết anh T1 hiện nay đang ở đâu. Trước khi bỏ nhà đi, anh T1 và chị H có thuê nhà ở nhiều nơi để sinh sống nhưng không có nơi ở cố định và cũng không đăng ký tạm trú ở đâu. Việc anh T1 và chị H vay tiền của Ngân hàng A thì chị chỉ nghe nói chứ không biết cụ thể. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã đăng tin tìm kiếm anh Đặng Đình T1 trên báo đài và các phương tiện truyền thông công cộng nhưng anh T1 không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh Đặng Đình T1.
- Tại phiên tòa, Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày ở trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn.
- Về nội dung vụ án: Các Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 và Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số công chứng 3188, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 được lập bởi Văn phòng C, thành phố Hà Nội được ký kết giữa Ngân hàng N và anh Đặng Đình T1, chị Nguyễn Thị H là tự nguyện, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên Hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Quá trình thực hiện các hợp đồng, anh T1, chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 08/5/2024, anh T1 và chị H còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 đã ký kết ngày 18/01/2023 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 đã ký kết ngày 07/02/2023 tổng số tiền là: 1.683.369.863 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 là 500.000.000 đồng, tiền lãi là 62.219.178 đồng; Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi là 121.150.685 đồng. Tài sản thế chấp cho các khoản nợ trên là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021 đứng tên anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 351,357, 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự; đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, buộc anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử là 1.683.369.863 đồng. Kể từ sau ngày 09/5/2024, anh T1, chị H phải tiếp tục trả tiền lãi của khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền nợ gốc theo lãi suất quy định trong Hợp đồng. Trường hợp anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H không trả được nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng N có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Tài sản cụ thể là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021 cho anh Đặng Đình T1 và vợ là chị Nguyễn Thị H. Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N khởi kiện anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H về việc yêu cầu thanh toán tiền theo hợp đồng tín dụng. Đây là tranh chấp Dân sự về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Điều 26 BLTTDS.
- Về thủ tục giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành đăng tin tìm kiếm anh Đặng Đình T1 trên các phương tiện thông tin đại chúng và tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định của pháp luật nhưng anh Đặng Đình T1 vẫn không đến tham gia tố tụng và không tham gia xét xử tại phiên tòa. Đây là lần thứ 2 bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Chị Nguyễn Thị H có lời khai xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại Khoản 5 Điều 9 của Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 và Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N với anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H thỏa thuận: “... Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này được giải quyết trên cơ sở thương lượng. Trường hợp không thương lượng được, các bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền tại nơi đóng trụ sở của Ngân hàng”. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 BLTTDS.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu thanh toán tiền theo hợp đồng tín dụng:
Xét Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 và Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N với anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H: Các bên ký kết hợp đồng trên tinh thần tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật, không vi phạm điều cấm của xã hội. Do vậy, hợp đồng nêu trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành.
Theo nội dung Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 và Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho anh T1, chị H tổng số tiền gốc của cả hai hợp đồng là 1.500.000.000đồng, trong đó số tiền anh T1, chị H vay Ngân hàng theo Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 là 500.000.000 đồng và số tiền anh T1, chị H vay Ngân hàng theo Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 là 1.000.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T1, chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên vay theo thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên.
Nguyên đơn trình bày: Tạm tính đến ngày 08 tháng 5 năm 2024, ông Đặng Đình T1 và bà Nguyễn Thị H còn nợ Ngân hàng theo 02 hợp đồng tín dụng nêu trên, chi tiết như sau:
- * Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023: anh T1, chị H còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 500.000.000 đồng; số tiền lãi là 62.219.178 đồng, trong đó: Tiền lãi trong hạn là 53.095.890 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.123.286 đồng, tổng cộng là 562.219.178 đồng.
- * Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023: anh T1, chị H còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng; số tiền lãi là 121.150.685 đồng, trong đó: Tiền lãi trong hạn là 106.191.781 đồng, tiền lãi quá hạn là 14.958.904 đồng. Tổng cộng là 1.121.150.685 đồng.
Chị H xác nhận số tiền gốc và tiền lãi còn nợ Ngân hàng như đại diện Ngân hàng trình bày. Anh T1, chị H không xuất trình các tài liệu, chứng cứ nào khác và không có bất kỳ yêu cầu, ý kiến gì. Chị H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc buộc anh T1, chị H trả cho Ngân hàng số tiền nêu trên là có căn cứ chấp nhận, buộc anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 đã ký kết ngày 18/01/2023 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 đã ký kết ngày 07/02/2023 tạm tính đến ngày 08/5/2024 là: 1.683.369.863 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 là 500.000.000 đồng, tiền lãi là 62.219.178 đồng; Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi là 121.150.685 đồng.
Kể từ ngày 09/5/2024, anh T1, chị H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 và Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 của Ngân hàng N.
[2.2] Về yêu cầu phát mại tài sản:
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số công chứng 3188, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 được lập bởi Văn phòng C, thành phố Hà Nội được ký kết giữa Ngân hàng N với anh Đặng Đình T1, chị Nguyễn Thị H: Các bên ký kết hợp đồng trên tinh thần tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật, không vi phạm điều cấm của xã hội. Sau khi ký hợp đồng thế chấp, tài sản bảo đảm đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận B ngày 01/7/2022. Do vậy, hợp đồng nêu trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành.
Theo nội dung hợp đồng thế chấp nêu trên, tài sản bảo đảm cho các khoản vay của anh T1, chị H tại ngân hàng theo các Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021 cho anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H.
- Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên: Trong trường hợp anh T1, chị H không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Tài sản cụ thể là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021cho anh Đặng Đình T1 và vợ là chị Nguyễn Thị H.
Xét thấy, anh T1, chị H đã thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên. Vì vậy, trường hợp anh T1, chị H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đầy đủ thì yêu cầu kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của Ngân hàng là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
[3]. Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí:
- Anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 62.501.095 đồng (Sáu mươi hai triệu, năm trăm linh một nghìn, không trăm chín mươi lăm đồng).
- Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 29.550.000 đồng (Hai mươi chín triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004612 ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ các Điều 280, 351,357, 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H.
- Buộc anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300009 đã ký kết ngày 18/01/2023 và Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-202300010 đã ký kết ngày 07/02/2023 tạm tính đến ngày 08/5/2024 là: 1.683.369.863 đồng (Một tỷ, sáu trăm tám mươi ba triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi ba đồng), trong đó:
- - Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), tiền lãi là 62.219.178 đồng (Sáu mươi hai triệu, hai trăm mười chín nghìn, một trăm bẩy mươi tám đồng), trong đó: Tiền lãi trong hạn là 53.095.890 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.123.286 đồng;
- - Tiền nợ gốc của Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), tiền lãi là 121.150.685 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi nghìn, sáu trăm tám mươi lăm đồng), trong đó: Tiền lãi trong hạn là 106.191.781đồng, tiền lãi quá hạn là 14.958.904 đồng.
Kể từ ngày 09/5/2024, anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng số 1421-LAV-202300009 ngày 18/01/2023 và Hợp đồng số 1421-LAV-202300010 ngày 07/02/2023 của Ngân hàng N.
- Trong trường hợp anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, tài sản cụ thể là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 197, tờ bản đồ số 59, phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 485558 do Sở TN&MT thành phố H cấp ngày 17/8/2021cho ông Đặng Đình T1 và vợ là bà: Nguyễn Thị H.
- Về án phí:
- - Anh Đặng Đình T1 và chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 62.501.095 đồng (Sáu mươi hai triệu, năm trăm linh một nghìn, không trăm chín mươi lăm đồng).
- - Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.550.000 đồng (Hai mươi chín triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004612 ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
Bản án số 114/2024/DS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 114/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N (A) - ông Đặng Đình T1, bà Nguyễn Thị H
