Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HS-ST

Ngày: 07-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Lê Thị Phương Hồ;
  • 2/ Bà Trần Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 96/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Đức Phúc L, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi thường trú: Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức H, sinh năm: 1943 (chết) và bà Đào Thị Mỹ H1, sinh năm: 1964; anh, em ruột: Không có; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/6/2023, chuyển tạm giam từ ngày 22/6/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Họ và tên: Trần Đoàn Hoàng N, sinh năm 2003 tại tỉnh Quảng Nam;

Nơi thường trú: Số C L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Cơ sở cai nghiện ma túy P; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng G, sinh năm: 1979 và bà Đoàn Thị S, sinh năm: 1964; anh, em ruột: Không có; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Văn D - Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 8, Khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Mỹ H1, sinh năm: 1964; địa chỉ: Số C N, Tổ A, Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Người làm chứng: Ông Đặng Thanh T, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số G L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 00 giờ 20 phút ngày 13/6/2023, Công an xã B, huyện C tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà Số C đường N, Tổ A, Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Đào Thị Mỹ H1. Khi kiểm tra đến phòng ngủ thì phát hiện Đỗ Đức Phúc L (con của bà H1) đang sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Trần Đoàn Hoàng N, trên sàn nhà có 01 đĩa sứ màu trắng chứa tinh thể màu trắng. Tiếp tục kiểm tra phát hiện bên trong ví của N có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. L và N khai nhận tinh thể màu trắng trên cái đĩa và trong tờ tiền là ma túy loại Ketamine do L và N cùng hùn tiền mua của một người đàn ông tên L1 (chưa rõ lai lịch) ở khu vực Chợ C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 2.000.000 đồng để nhằm sử dụng chung. Công an xã B, huyện C đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Trước đó, vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, Trần Đoàn Hoàng N đã gọi điện bằng tài khoản Messenger tên “H” rủ Đỗ Đức Phúc L hùn mỗi người số tiền 1.000.000 đồng để mua ma túy sử dụng chung thì L đồng ý. Tuy nhiên, L chưa có tiền nên thỏa thuận N sẽ ứng tiền trước, mấy ngày sau L sẽ trả tiền cho N. Sau đó, L điều khiển xe gắn máy biển số 59P3-034.27 đến nhà N tại Ấp D, xã B, huyện C để chở N đi mua ma túy. Trên đường đi N liên lạc với người đàn ông tên L1 (không rõ lai lịch) qua tài khoản M có tên “NyNy” hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy thì L1 đồng ý bán và hẹn giao nhận ma túy tại khu vực Chợ C trên đường Q, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. L điều khiển xe gắn máy biển số 59P3-034.27 chở N đến điểm hẹn. Tại đây, L ngồi trên xe chờ, N đi bộ vào trong để đến gặp người bán ma túy, nhận lại 01 gói nylon chứa ma túy, giấu vào trong quần lót đang mặc, nhưng chưa trả tiền. Sau đó, L chở N về nhà của L ở căn nhà Số C, đường N, Tổ A, Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng ma túy. Tại phòng ngủ của L, N lấy gói nylon chứa ma túy chia thành 02 phần, 01 phần bỏ vào tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cất trong ví, phần ma túy còn lại đổ lên tờ tiền 1.000 đồng dùng quẹt gas đốt nóng. Còn L xuống phòng bếp lấy 01 đĩa mang vào phòng ngủ, N đổ ma túy vào trong cái đĩa dùng thẻ nhựa cà ma túy và kẻ thành từng đường, dùng tờ 10.000 đồng cuộn tròn để N và L cùng sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 13/06/2023, lực lượng Công an xã B tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Ngoài ra, vào ngày 07/6/2023, L và N mỗi người cùng hùn chung 250.000 đồng để mua 500.000 đồng ma túy của L1 về sử dụng chung tại phòng ngủ của L.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của L và N tại Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ gì.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của L:

  • + 02 gói niêm phong mang số vụ 1324/23 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên;
  • + 01 xe gắn máy hiệu Piaggio, loại Vespa Sprint 125, màu xanh, biển số 59P3-034.27, số máy M82EM5077143, số khung: RP8M82514KV011246;
  • + 01 đĩa sứ màu trắng;
  • + 01 quẹt gas;
  • + 01 thẻ nhựa;
  • + 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn;
  • + 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng;
  • + 01 điện thoại di động Iphone 11, số Imeil: 356550106976321, số Imei2: 356550107400990, đây điện thoại cá nhân của L.

- Thu giữ của N:

  • + 01 cái ví;
  • + 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng chứa ma túy;
  • + 01 điện thoại di động Iphone 11, số Imeil: 358981878506673, số Imei2: 358981878573855, đây là điện thoại mà N dùng liên lạc mua ma túy

Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy L và N dương tính với ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số: 6370/KL-KTHS ngày 22/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: (bút lục 74)

- Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m₁ cần giám định (có chữ ký của Đỗ Đức Phúc L) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2775 gam, loại Ketamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (có chữ ký của Trần Đoàn Hoàng N) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2656 gam loại Ketamine.

Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS.CC ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Đỗ Đức Phúc LTrần Đoàn Hoàng N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tại phiên tòa hôm nay: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo và đồng ý với Kết luận giám định số: 6370/KL-KTHS ngày 22/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận:

Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:

Đỗ Đức Phúc L từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Trần Đoàn Hoàng N từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0.5431 gam chất ma tuý thể rắn, loại Ketamine của bị cáo L nhằm mục đích sử dụng do chưa đủ định lượng ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B đã xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng đối L với theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 383/QĐ-XPHC ngày 27/6/2023.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0.5431 gam chất ma tuý thể rắn, loại Ketamine của bị cáo N nhằm mục đích sử dụng do chưa đủ định lượng ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B đã xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng đối Nam với theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 363/QĐ-XPHC ngày 20/6/2023.

- Đối với đối tượng L1 là người bán chất ma túy cho bị cáo L và đối tượng N hiện chưa rõ lai lịch. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa xác định được nhân thân, lý lịch, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với bà Đào Thị Mỹ H1 là chủ nhà Số C đường N, Tổ A, Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không biết việc bị cáo L và đối tượng N tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Luật sư Nguyễn Văn D phát biểu quan điểm tranh luận tại phiên tòa để bào chữa cho bị cáo L và bị cáo N:

Ông D thống nhất tội danh và điều, khoản đã truy tố bị cáo L và bị cáo N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Luật sư cho rằng các bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn trẻ do ảnh hưởng của mạng xã hội, theo lời dụ dỗ của các đối tượng xấu chào bán ma túy trên mạng nên đã tò mò rủ nhau góp tiền mua ma túy về dùng thử. Ngày 07/6/2023, L và N góp 500.000 đồng, mỗi người 250.000 đồng và ngày 12/6/2023 L và N góp 2.000.000 đồng, mỗi người góp 1.000.000 đồng. L và N góp tiền mua về để sử dụng cho bản thân ngoài ra không rủ rê, lôi kéo thêm ai và không nhằm mục đích khác. Hành vi của L và N bộc phát, không hề có toan tính phân công nhiệm vụ từ trước nên không có tính tổ chức. Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bản thân L và N chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thần khẩn, ăn năn hối cải, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, hoàn cảnh gia định của các bị cáo cũng rất khó khăn. Riêng bản thân L đã tích cực tham gia công tác phòng chống dịch Covid-19 và được chính quyền tặng nhiều giấy khen. Kính mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án gồm 01 điện thoại di động Iphone 11 của L, 01 điện thoại di động Iphone 11 của N và 01 chiếc xe máy Piaggio Vespa Sprint 125, biển số 59P3-034.27, trước đây do ông Lâm Văn Đ đứng tên sở hữu. Ngày 23/8/2022, ông Đ chuyển nhượng lại cho ông Đặng Thanh T bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền. Ngày 30/12/2022, ông T chuyển nhượng lại cho L. Sau đó, L đứng tên giấy phép đăng ký xe. Căn cứ vào lời trình bày của mẹ ruột bị cáo L là bà Đào Thị Mỹ H1, ông T và bị cáo L thì vào ngày 30/12/2022, chính bà H1 mới là người trực tiếp giao dịch mua bán và thanh toán tiền cho anh T. Do bà H1 đã lớn tuổi nên L chỉ đứng tên dùm cho bà H1 trên giấy phép đăng ký xe nên thực chất là tài sản của bà H1. Vì vậy, ông D đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho L 01 điện thoại Iphone 11, trả lại cho N 01 điện thoại Iphone 11, trả lại cho bà H1 01 chiếc xe Piaggio Vespa Sprin 125, biển số 59P3-034.27.

Bị cáo Đỗ Đức Phúc L không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Trần Đoàn Hoàng N không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo L nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo N nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo L và bị cáo N đã khai nhận hành vi đúng như cáo trạng số 99/CT-VKS.CC ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có trong hồ sơ. Vào lúc 00 giờ 20 phút ngày 13/6/2023, tại phòng ngủ của bị cáo Đỗ Đức Phúc L trong căn nhà Số C đường N, Tổ A, Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện L và Trần Đoàn Hoàng N đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ tổng khối lượng 0.5431 gam, loại Ketamine (Tại Kết luận giám định số: 6370/KL-KTHS ngày 22/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H) do L và N cùng hùn tiền mua nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra vào ngày 07/6/2023, L và N cùng tổ chức mỗi người cùng hùn 250.000 đồng để mua 500.000 đồng ma túy về sử dụng chung tại phòng ngủ của L. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo L và bị cáo N là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Đức Phúc L và bị cáo Trần Đoàn Hoàng N đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyên và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, chứa chấp, tổ chức sử dụng, mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý.

Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc hùn tiền mua chất ma túy, sử dụng các dụng cụ cần thiết để hỗ trợ cho nhau sử dụng được chất ma túy tại phòng ngủ do bị cáo L quản lý là phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện nên bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm móng phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ:

- Đối với bị cáo L: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo L là hội viên Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam xã B, huyện C được chứng nhận đạt danh hiệu “Thanh niên sống đẹp – sống có ích” năm 2021 (bản sao giấy chứng nhận), vào năm 2021 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ban hành quyết định biểu dương “Tình nguyện viên Đoàn Thanh niên xã đã có thành tích tiêu biểu và đóng góp tích cực trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn xã B” (Quyết định số 5017-UBND, ngày 03/11/2021). Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và luật sư bào chữa cho bị cáo L là phù hợp.

- Đối với bị cáo N: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và luật sư bào chữa cho bị cáo N là phù hợp.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo N đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Quyết định khởi tố bị can số 555 ngày 20/12/2023.

[6] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo L và bị cáo N là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với 02 gói niêm phong mang số vụ 1324/23 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 quẹt gas; 01 thẻ nhựa; Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Piaggio, loại Vespa Sprint 125, màu xanh, biển số 59P3-034.27, số máy M82EM5077143, số khung: RP8M82514KV011246 do bị cáo L đứng tên giấy đăng ký chủ sở hữu. Bị cáo sử dụng xe để sử dụng đi mua trái phép ma túy nên Hội đồng xét xử xét quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bị cáo dùng để gói ma túy nên Hội đồng xét xử xét quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- 01 điện thoại di động Iphone 11, số Imeil: 356550106976321, số I: 356550107400990. Đây điện thoại cá nhân của L, dùng liên lạc sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử xét quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 cái ví đây là tài sản cá nhân của đối tượng N và dùng để cất giấu chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- 01 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 1.000 đồng đối tượng dùng để gói ma túy nên Hội đồng xét xử xét quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- 01 điện thoại di động Iphone 11, số Imeil: 358981878506673, số Imei2: 358981878573855, đây là điện thoại mà N dùng liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử xét quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo L hùn tiền chung mua chất ma túy với N nhưng chưa đưa tiền cho N, bị cáo L tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo L nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo N hùn tiền chung mua chất ma túy với L nhưng chưa đưa tiền cho L1 (không rõ lai lịch), bị cáo N tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo N nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

- Đối với bà Đào Thị Mỹ H1 là chủ nhà, không biết việc bị cáo L và N tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với người thanh niên tên L1 sử dụng tài khoản Messenger có tên “NyNy” và người thanh niên tên  bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L và đối tượng N hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa triệu tập lấy lời khai được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,5431 gam chất ma tuý thể rắn của bị cáo L, khối lượng chất ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,5431 gam chất ma tuý thể rắn của bị cáo N, khối lượng chất ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đối tượng N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo L và bị cáo N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Điều luật, tội danh và hình phạt:

- Đối với bị cáo L: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức Phúc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo Đỗ Đức Phúc L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023.

- Đối với bị cáo N: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đoàn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo Trần Đoàn Hoàng N 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.

[2]. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 02 gói niêm phong mang số vụ 1324/23 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên;
  • + 01 cái ví;
  • + 01 dĩa sứ màu trắng;
  • + 01 thẻ nhựa;
  • + 01 quẹt gas.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 xe gắn máy hiệu Piaggio, loại Vespa Sprint 125, màu xanh, số máy M82EM5077143, số khung: RP8M82514KV011246, biển số 59P3-034.27;
  • + 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng;
  • + 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng;
  • + 01 điện thoại di động Iphone 11, số Imei 1: 358981878506673, số Imei 2: 358981878573855.
  • + 01 điện thoại di động Iphone 11, số Imei 1: 356550106976321, số Imei 2: 356550107400990.

Các vật chứng trên được liệt kê theo Lệnh nhập kho số 157/LNK-CSĐT-MT ngày 29/6/2023, Lệnh nhập kho số 157A/LNK-CSĐT-MT ngày 26/9/2023, Phiếu nhập kho vật chứng số 157/PNK ngày 29/6/2023, Giấy nộp tiền ngày 30/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C (bút lục 80, 81, 82, 83, 84).

- Truy thu tiền mua ma túy nhưng chưa trả của các bị cáo:

  • + Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo L;
  • + Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo N.

[3]. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Đỗ Đức Phúc L và bị cáo Trần Đoàn Hoàng N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - Các bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Anh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 144/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Bị cáo Đỗ Đức Phúc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Đỗ Đức Phúc L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023. 2. Bị cáo Trần Đoàn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Trần Đoàn Hoàng N 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger