TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 144/2024/DS-ST.
Ngày: 06/9/2024.
V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thắm
Bà Nguyễn Kim Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương: tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 313/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1); địa chỉ: Số B, đường N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Hiếu T – Chức vụ: Phó Phòng G – S1 Chi nhánh B – vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trịnh Quang L, sinh năm: 1999; đăng ký thường trú: Tổ H, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong Đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp là ông Dương Hiếu T trình bày:
Ngày 20/10/2023, ông Trịnh Quang L có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là S1) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2963528, ngày 20/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông L, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông L đã thực hiện các giao dịch và các khoản phải thanh toán với tổng số tiền là 117.606.511 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông L đã thanh toán cho S1 số tiền 58.290.140 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông L vẫn không có thiện chỉ trả nợ. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, tháng 05/2024, S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 23/05/2024, ông L còn nợ các khoản sau:
- - Nợ gốc: 59.316.371 đồng;
- - Lãi quá hạn: 1.251.404 đồng
- Tổng cộng: 60.567.775 đồng
Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trịnh Quang L phải trả tổng số tiền gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (06/9/2024) là 68.444.259 đồng và lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho S1 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.
2. Bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn ông Trịnh Quang L biết về việc thụ lý, giải quyết vụ án và triệu tập ông L đến Tòa án tham gia tố tụng. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
3. Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có ý kiến:
- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, nguyên đơn và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, có cơ sở xác định ông Trịnh Quang L chưa thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc 59.316.371 đồng và tiền lãi phát sinh, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền này.
Các yêu cầu khác của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Các đương sự không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Trịnh Quang L vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Xét việc triệu tập ông L tham gia phiên tòa của Tòa án là hợp lệ. Việc vắng mặt của ông L không vì lý do bất khả kháng và không gây trở ngại cho việc xét xử. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Trịnh Quang L thanh toán số tiền nợ gốc là 59.316.371 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2963528, ngày 20/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.
Bị đơn ông Trịnh Quang L không có yêu cầu phản tố, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ về vụ việc cho Tòa án.
[3] Xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì thấy:
[3.1] Về nợ gốc:
Giữa S1 và ông L có ký kết, thực hiện hợp đồng thẻ tín dụng tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2963528, ngày 20/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng giữa S1 và ông L có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 401, Điều 402 và Điều 405 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch, là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên.
Căn cứ Bản tóm tắt sao kê của ông Trịnh Quang L, số căn cước công dân [...], số thẻ 436436-0521 do S1 cung cấp thì ông L kích hoạt thẻ và bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 05/5/2024 và có thanh toán cho S1 03 lần. Trong thời gian sử dụng thẻ ông L thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 113.082.846 đồng và đã thanh toán cho S1 tổng số tiền là 58.290.140 đồng (thanh toán 58.015.240 đồng, hoàn tiền giao dịch tháng 01/2024: 247.650 đồng, hoàn tiền giao dịch tháng 02/2024: 27.250 đồng). Kể từ tháng 01/2024 đến nay ông L không trả cho S1 thêm bất kì khoản tiền nào. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, tháng 05/2024 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Hiện số tiền nợ gốc ông L còn nợ S1 là 59.316.371 đồng (bao gồm số tiền đã giao dịch, phí trễ hạn, lãi trong hạn, phí vượt hạn mức, phí thường niên).
Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn.
Điều 5 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: Chủ thẻ có trách nhiệm đối với việc thanh toán tất cả giao dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát sinh.
Khoản 1, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng.
Xét bị đơn ông Trịnh Quang L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được S1 thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không thanh toán là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên. Căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 59.316.371 đồng là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2] Về tiền lãi phát sinh:
S1 yêu cầu ông Trịnh Quang L trả tiền lãi quá hạn (tạm tính đến ngày 06/9/2024) là: 9.127.888 đồng và buộc ông L phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho S1.
Xét trong quá trình thanh toán nợ cho S1, ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và S1 đã chuyển toàn bộ khoản nợ của ông L sang nợ quá hạn kể từ ngày 23/5/2024 là phù hợp.
Xét thấy, tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2963528, ngày 20/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng đã ký kết giữa hai bên có thỏa thuận về lãi suất, lãi quá hạn. Đến nay đã quá thời hạn thanh toán nên S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L phải trả lãi quá hạn và phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho S1 là phù hợp với các điều khoản thỏa thuận giữa hai bên và quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3.3] Từ các tình tiết trên, có cơ sở xác định đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 06/9/2024), ông Trịnh Quang L còn nợ S1 các khoản sau:
- - Nợ gốc: 59.316.371 đồng;
- - Lãi quá hạn: 9.127.888 đồng;
- Tổng cộng: 68.444.259 đồng.
Xét, cần buộc ông L thanh toán các khoản tiền trên cho S1.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 401, Điều 402, Điều 405 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Điều 147, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Trịnh Quang L về việc: “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”.
Buộc ông Trịnh Quang L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S các khoản tiền:
- - Nợ gốc: 59.316.371 đồng;
- - Lãi quá hạn: 9.127.888 đồng;
- Tổng cộng: 68.444.259 đồng (sáu mươi tám triệu, bốn trăm bốn mươi bốn nghìn, hai trăm năm mươi chín đồng).
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2963528, ngày 20/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Phòng G - Chi nhánh B với ông Trịnh Quang L.
Kể từ ngày 07/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ, ông Trịnh Quang L còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2963528, ngày 20/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trịnh Quang L phải chịu số tiền 3.422.213 đồng (ba triệu, bốn trăm hai mươi hai nghìn, hai trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 1.514.194 đồng (một triệu, năm trăm mười bốn nghìn, một trăm chín mươi bốn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0003304 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số Số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |
Bản án số 144/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 144/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
