Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-6-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Xuân Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Ông Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên toà.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXX-ST ngày 17/5/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Wu, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: đường T, cụm A, phường T, thành phố M, huyện L, Đài Loan.

Anh Wu ủy quyền cho anh Vy Thành C, sinh năm 1993; Nơi thường trú: khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giao nhận tài liệu với Tòa án. Văn bản ủy quyền ngày 18/3/2024.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Wu (đã được hợp pháp hóa lãnh sự) trình bày:

Về hôn nhân: anh và chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 26/5/2020 tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh quay trở lại Đài Loan làm việc, còn chị H ở lại Việt Nam làm thủ tục sang sau nhưng không sang được. Sau khi kết hôn ngoài việc sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, lối sống còn vì khoảng cách địa lý xa xôi giữa hai nước nên vợ chồng không gặp được nhau nên hay xảy ra mâu thuẫn, tình cảm lạnh nhạt dần, nay không còn liên lạc với nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: anh, chị không có con chung.

Về tài sản, công nợ chung: anh, chị không có công nợ, tài sản chung.

Theo bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống, quá trình mâu thuẫn của vợ chồng chị thống nhất và đồng ý với trình bày của anh Wu. Chị và anh Wu đã ly thân một thời gian dài. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đồng ý ly hôn anh Wu. Chị cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Wu.

Về con chung: anh, chị không có con chung.

Về tài sản, công nợ chung: anh, chị không có công nợ, tài sản chung.

Tại phiên tòa, anh Wu, chị Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Wu, chị Nguyễn Thị H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: anh Wu khởi kiện xin ly hôn chị H. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: anh Wu là nguyên đơn hiện đang sinh sống tại Đài Loan, chị H là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Wu, chị H.

[4]. Về việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy: Vụ án này Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang không tiến hành thu thập chứng cứ. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[5]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Wu và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/5/2020 tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Wu khởi kiện xin ly hôn chị H.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Wu với chị H, Hội đồng xét xử thấy: Anh Wu và chị Nguyễn Thị H được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện L. Sau khi kết hôn một thời gian anh Wu quay trở lại Đài Loan làm việc ngay, chị H ở lại Việt Nam làm thủ tục sang sau nhưng không sang được. Từ khi anh Wu quay trở lại Đài Loan làm việc anh, chị chưa gặp nhau lần nào. Quá trình chung sống sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được. Đến nay anh, chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không mong muốn chung sống cùng nhau nữa. Do vậy, Hội đồng xác định vợ chồng chị H, anh Wu không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Wu với chị H là hoàn toàn phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[6]. Về con chung: Do anh Wu, chị H không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản chung, công nợ: Do anh Wu, chị H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Anh Wu phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo:

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Wu đang cư trú tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Wu được ly hôn Chị Nguyễn Thị H.
  2. Về án phí: Anh Wu phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 001159 ngày 17/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Wu đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo bản án:

    Anh Wu có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Xuân Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 144/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giua anh Wu va chi Nguyen Thi H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger