|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 144/2025/HS-ST Ngày: 05-06-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
Bà Võ Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hồ Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2025/HSST ngày 24/03/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2025/QĐXXST-HS ngày 13/5/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Minh Q; sinh ngày: 06/7/1985; tại: Thành phố Hồ Chí Minh, hộ khẩu thường trú: số B đường M, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha Lê Minh T1, họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thúy H;
Tiền án: 02 tiền án.
-Bản án số 207/2008/HSST ngày 21/8/2008 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Lê Minh Q 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam C (K), Bến Tre, chưa chấp hành hình phạt bổ sung, chưa xóa tích.
-Bản án số 236/2011/HSST ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Lê Minh Q 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án xác định tái phạm), đã chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam C (K), Bến Tre, chưa thi hành nộp án phí hình sự, chưa xóa tích.
Tiền sự: 04 tiền sự,
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện bắt buộc số 74/QĐ-TA ngày 04/5/2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Ngày 29/03/2016, “Cai nghiện bắt buộc” thời gian 24 tháng tại Trung tâm C1.
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện bắt buộc số 08/QĐ-TA ngày 09/1/2019 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh:Ngày 08/10/2018, “Cai nghiện bắt buộc” thời gian 02 năm tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2.
-Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện bắt buộc số 159/QĐ-TA ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Ngày 26/04/2021, “Cai nghiện bắt buộc” thời gian 22 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3.
-Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện bắt buộc số 58/QĐ-TA ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh: Ngày 13/01/2023, “Cai nghiện bắt buộc” thời gian 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy P.
Nhân thân:
- Ngày 29/05/2000, “Cải tạo” thời gian 24 tháng về hành vi Gây rối trật tự công cộng tại Trường G1, L, Đồng Nai, đã xóa tiền sự.
- Ngày 25/03/2003, “Cơ sở chữa bệnh bắt buộc” thời gian 02 năm tại Cơ sở cai nghiện Thanh thiếu niên B1, C, đã xóa tiền sự.
- Bản án số 199/2012/HSST ngày 26/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Lê Minh Q 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam C (K20), Bến Tre, đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/10/2024; (Có mặt).
- Bị hại: Trần Duy Q1, sinh năm 2000; Địa chỉ: B N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Nguyễn Thị Bích G; sinh năm: 1994; Địa chỉ: E P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ án thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ ngày 22/09/2024, Lê Minh Q đi bộ đến trước số E đường P, Phường A, quận B thì phát hiện trong sân nhà có một xe mô tô hiệu Yamaha Luvias màu xám xanh, biển kiểm soát 61D1-597.43 của chị Nguyễn Thị Bích G đang có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Q nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đến mở khóa xe mô tô và điều khiển xe tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Q sử dụng xe để đi lại. Đến khoảng 20 giờ ngày 24/9/2024, Q điều khiển xe đi trên đường N, phường Đ, Quận A thì va chạm với một người đàn ông (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô Airblade (không rõ biển số). Do bị yêu cầu bồi thường nên Q để xe lại rồi bỏ đi. Sau đó, Công an phường Đ, Quận A đã đưa xe mô tô trên về trụ sở để xử lý.
Vụ án thứ hai: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/9/2024, Lê Minh Q đi bộ ngang qua nhà số B N, Phường C, quận G thì phát hiện trong nhà có 01 xe mô tô hiệu honda Wave RS biển kiểm soát 77N9-1156 của anh Trần Duy Q1 có chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Q nảy sinh ý định chiếm đoạt. Q vào nhà đẩy xe trên ra ngoài rồi nổ máy điều khiển xe tẩu thoát. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, anh Q1 phát hiện xe mô tô đã bị mất nên đến Công an P1, quận G trình báo. Qua truy xét, khoảng 22 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra đã đưa Q cùng vật chứng về trụ sở để làm việc.
Bản kết luận định giá tài sản số 270/KLĐGTS-TCKH, ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận B, kết luận: 01 xe mô tô Yamaha Luvias màu xám xanh biển số 61D1-597.43, có trị giá là 5.000.000 đồng
Bản kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐGTS, ngày 04/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 77N9-1156, có giá trị là 9.166.667 đồng.
Vật chứng thu giữ:
-01 (một) xe mô tô Luvias màu xám xanh biển số 61D1-597.43. Qua xác minh, chủ sở hữu là bà Lâm Thị Ngọc B, bà B giao xe cho con ruột là chị Nguyễn Thị Bích G quản lý, sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị G.
-01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số E đường P, Phường A, quận B vào ngày 22/9/2024, lưu kèm hồ sơ vụ án.
-01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số S N, Phường C, quận G vào ngày 28/9/2024, lưu kèm hồ sơ vụ án.
-01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 77N9-1156. Qua xác minh, chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc V. Năm 2018, ông V đã tặng cho anh Trần Duy Q1, Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh Q1.
Tại Cơ quan điều tra, Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Bích G và anh Trần Duy Q1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS-GV, ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Lê Minh Q (có lý lịch nêu trên) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Minh Q từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
-01 (một) xe mô tô Luvias màu xám xanh biển số 61D1-597.43. Qua xác minh, chủ sở hữu là bà Lâm Thị Ngọc B, bà B giao xe cho con ruột là chị Nguyễn Thị Bích G quản lý, sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị G.
-01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số E đường P, Phường A, quận B vào ngày 22/9/2024, lưu kèm hồ sơ vụ án.
-01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số S N, Phường C, quận G vào ngày 28/9/2024, lưu kèm hồ sơ vụ án.
-01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 77N9-1156. Qua xác minh, chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc V. Năm 2018, ông V đã tặng cho anh Trần Duy Q1, Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh Q1.
Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án thật khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại không có yêu cầu, đã trình bày lời khai, xin xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Lê Minh Q đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 20 giờ ngày 22/09/2024, Lê Minh Q đi bộ đến trước số E đường P, Phường A, quận B thì phát hiện trong sân nhà có một xe mô tô hiệu Yamaha Luvias màu xám xanh, biển kiểm soát 61D1-597.43 của chị Nguyễn Thị Bích G đang có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Bị cáo Q đã lét lút chiếm đoạt chiếc xe máy nêu trên. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 270/KLĐGTS-TCKH, ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận B, kết luận: 01 xe mô tô Yamaha Luvias màu xám xanh biển số 61D1-597.43, có trị giá là 5.000.000 đồng
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/9/2024, Lê Minh Q đi bộ ngang qua nhà số B N, Phường C, quận G thì phát hiện trong nhà có 01 xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 77N9-1156 của anh Trần Duy Q1 có chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Bị cáo Q đã lét lút chiếm đoạt chiếc xe máy nêu trên. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐGTS, ngày 04/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 77N9-1156, có giá trị là 9.166.667 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án số 236/2011/HSST ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Lê Minh Q 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam C (K20), Bến Tre, nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung, chưa thi hành nộp án phí hình sự, chưa xóa tích. Bản án số 236/2011/HSST ngày 27/9/2011 được xác định là tái phạm, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định của điểm b Khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi này của bị cáo thuộc trường hợp định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 57/CT-VKS-GV, ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đây là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo,
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với hành vi phạm tội của bị cáo thì cần thiết phải có một mức án nghiêm khắc như mức án mà Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã đề nghị để đảm bảo được tính răn đe, sự nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại ông Trần Duy Q1, bà Nguyễn Thị Bích G vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác, hiện không có thắc mắc khiếu nại gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[6] Về xử lý vật chứng:
+ Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số E đường P, Phường A, quận B vào ngày 22/9/2024; 01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số S N, Phường C, quận G vào ngày 28/9/2024.
- 01 (một) xe mô tô Yamaha Luvias màu xám xanh biển số 61D1-597.43. Qua xác minh, chủ sở hữu là bà Lâm Thị Ngọc B đã giao xe cho con ruột là chị Nguyễn Thị Bích G quản lý, sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị G là có cơ sở
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 77N9-1156. Qua xác minh, chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc V. Năm 2018, ông V đã tặng cho anh Trần Duy Q1, Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh Q1 là có cơ sở.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ vào điểm g Khoản 2 Điều 173, điểm b Khoản 2 Điều 53; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024
Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số E đường P, Phường A, quận B vào ngày 22/9/2024; 01 (một) USB chứa dữ liệu video liên quan đến hành vi trộm cắp tại số S N, Phường C, quận G vào ngày 28/9/2024.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q2 về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Linh |
Bản án số 144/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 144/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
