|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- TÂY NINH Bản án số: 144/2025/HNGĐ-ST 25-12-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Tâm
- Bà Phạm Hoàng Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Ninh – Là Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 10-Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 547/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1978; (có đơn xin vắng mặt);
Căn cước công dân: [...], cấp ngày 10/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.
Địa chỉ cư trú: Số nhà E, đường Đ, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Ông Đường Tiến T, sinh năm 1978; (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 9 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày tại phiên hòa giải ngày 27/11/2025:
Bà và ông T tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2006, có đăng ký kết hôn vào ngày 24-8-2006 tại Ủy ban Nhân dân phường D, thành phố T (nay là phường T), tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau này ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do ông T không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên uống rượu bia và có những lời nói xúc phạm đến bà. Ông bà đã ly thân không còn sống chung và bà xác định tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Đường Tiến T.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Đường N, sinh ngày: 20-5-2007. Con chung đã thành niên nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông T trình bày tại phiên hòa giải ngày 27/11/2025: Ông xác định có uống rượu bia và có những lời nói xúc phạm đến bà H. Tuy nhiên ông T có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng nên ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Đường N, sinh ngày: 20-5-2007. Con chung đã thành niên nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà H và ông T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Đường Tiến T, bà H được ly hôn với ông Đường Tiến T. Về con chung: Con chung đã thành niên, ông T bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- Tây Ninh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà H và ông T.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đường Tiến Thanh tự nguyện chung sống vợ chồng năm 2006 và có đăng ký kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố T (nay là phường T), tỉnh Tây Ninh đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của bà H, thấy rằng: Qua lời trình bày của bà H thì bà và ông T chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, ông T không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên uống rượu bia có những lời nói xúc phạm đến bà. Ông T có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng.
Tuy nhiên, bà H và ông T đã ly thân không còn sống chung, bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn. Mặt khác, ông T xác định vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, ông có thường xuyên uống rượu bia và có những lời nói xúc phạm đến bà H. Do đó, có cơ sở cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông T là trầm trọng.
Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông T không còn hạnh phúc nên mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung của ông bà không thể kéo dài, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung: Ông T và bà H có 01 con chung tên Đường Ngọc Thanh T1, sinh ngày 20-5-2007. Con chung đã thành niên nên ông T bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Ông T và bà H không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5]. Về nợ chung: Ông T và bà H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6]. Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, án phí là 300.000 đồng.
Ông Đường Tiến T không phải chịu án phí sơ thẩm.
[7]. Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- Tây Ninh về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Đường Tiến T. Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Đường Tiến T.
Về con chung: Ông T và bà H có 01 con chung tên Đường Ngọc Thanh T1, sinh ngày 20-5-2007. Con chung đã thành niên tự lao động và sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Bà H và ông T không yêu cầu tòa giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Bà H và ông T trình bày không nợ ai nên không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006633 ngày 10/10/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà H đã nộp xong.
Ông Đường Tiến T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Nương |
Bản án số 144/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10- Tây Ninh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 144/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10- Tây Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
