TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 144/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/4/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quế Anh, ông Võ Duy Bảo
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bằng Giang – Kiểm sát viên
Ngày 08/4/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 637/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Võ Minh Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
- - Bị đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1994. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú và làm việc tại Hàn Quốc. Vắng mặt
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Lê Văn H, sinh năm 1966 và bà Lê Thị S, sinh năm 1972. Cùng địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Võ Minh Đ trình bày: Anh Võ Minh Đ và chị Lê Thị Thu T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/02/2018 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống cùng gia đình nhà chồng tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, năm 2014, anh Võ Minh Đ đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Đến năm 2019, chị Lê Thị Thu T cũng sang Hàn Quốc làm ăn cùng với anh Đ. Được một thời gian ngắn thì vợ chồng sinh con tại Hàn Quốc. Sau đó vợ chồng anh bỏ ra ngoài sinh sống bất hợp pháp, còn con chung thì gửi về ông bà ngoại là ông Lê Văn H và bà Lê Thị S chăm sóc. Sau khi bỏ ra ngoài sinh sống bất hợp pháp, vợ chồng ít được gặp nhau, tình cảm lạnh nhạt dần và mâu thuẫn ngày càng nhiều. Chị Lê Thị Thu T từ lúc sang Hàn Quốc đến nay chưa về nước lần nào. Còn anh Võ Minh Đ về Việt Nam từ tháng 8/2024. Vợ chồng đã không còn liên lạc từ lâu. Nay anh Đ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Võ Minh Đ được ly hôn với chị Lê Thị Thu T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Võ Minh Bảo L, sinh ngày 17/4/2020, hiện cháu đang ở với ông bà ngoại là ông Lê Văn H và bà Lê Thị S. Ly hôn, anh Võ Minh Đ có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị Lê Thị Thu T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Võ Minh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn chị Lê Thị Thu T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn yêu cầu chị Lê Thị Thu T có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho chị Lê Thị Thu T thông qua ông Lê Văn H, bà Lê Thị S là bố mẹ đẻ của chị Lê Thị Thu T; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của chị T nhưng hiện tại chị Lê Thị Thu T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại đơn đề ngày 24/02/2025, ông Lê Văn H và bà Lê Thị S trình bày: ông bà là bố mẹ đẻ của chị Lê Thị Thu T. Anh Đ và chị T kết hôn vào ngày 21/2/2018 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng anh Đ, chị T có một con chung là cháu Võ Minh Bảo L, sinh ngày 17/4/2020. Anh Võ Minh Đ và chị Lê Thị Thu T mâu thuẫn một thời gian, quá trình đó gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay anh Đ làm đơn xin ly hôn với chị Lê Thị Thu T thì ông, bà không có ý kiến gì. Năm 2018, chị Lê Thị Thu T đi du học tại Hàn Quốc từ đó đến nay chưa về nước lần nào. Chị T đi nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với ông H, bà S qua mạng xã hội để hỏi thăm sức khỏe và hỏi han việc chăm sóc cháu. Tuy nhiên, ông H, bà S không biết địa chỉ của chị T ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Ông bà đã thông báo cho chị T biết về việc anh Đ làm đơn xin ly hôn. Thông qua ông bà, chị T trình bày, chị đồng ý ly hôn với anh Đ; về con chung, vợ chồng có một con chung là cháu Võ Minh Bảo L, hiện nay chị T đang ở nước ngoài, chưa có điều kiện nuôi cháu nên đồng ý giao con chung cho anh Võ Minh Đ nuôi; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
Khi chị T đi nước ngoài, năm 2020 chị T sinh cháu Bảo L và gửi về cho ông bà chăm sóc nuôi dưỡng cháu từ nhỏ cho đến nay. Mọi chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cháu đều do mẹ cháu là chị Lê Thị Thu T gửi về. Nếu anh Đ, chị T ly hôn, ông bà không có yêu cầu gì về chi phí nuôi cháu Võ Minh Bảo L từ trước cho đến nay. Về vấn đề nuôi cháu, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định tại pháp luật. Trường hợp Tòa án giao cháu Bảo L cho anh Võ Minh Đ nuôi dưỡng thì ông bà đề nghị anh Đ không cản trở việc thăm gặp và tạo điều kiện cho ông bà và mẹ cháu được đón cháu về chơi với ông bà mỗi khi có dịp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu thân nhân của chị T cung cấp địa chỉ của chị T ở nước ngoài cho Tòa án. Thông qua lời khai của ông Lê Văn H, bà Lê Thị S (bố mẹ đẻ của chị Lê Thị Thu T) có căn cứ xác định bị đơn chị Lê Thị Thu Thiện đang ở nước ngoài và vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình, chị T đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của anh Đ nhưng chị T vẫn không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Võ Minh Đ được ly hôn với chị Lê Thị Thu T. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Võ Minh Bảo L cho anh Võ Minh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: anh Võ Minh Đ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Anh Võ Minh Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 4859/QLXNC-Đ1 ngày 13/11/2024 của Phòng Q Công an tỉnh N và lời trình bày của ông Lê Văn H, bà Lê Thị S thì có căn cứ xác định hiện nay chị Lê Thị Thu T đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của chị Lê Thị Thu T cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị T cho Tòa án. Do đó, việc chị Lê Thị Thu T vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lê Thị Thu T đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; anh Võ Minh Đ, ông Lê Văn H, bà Lê Thị S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Minh Đ, chị Lê Thị Thu T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống sống hạnh phúc được một thời gian thì anh Đ và chị T cùng sang Hàn Quốc làm việc và sinh con. Sau khi sinh con, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hiện nay anh Đ đã về Việt Nam, chị T ở lại Hàn Quốc. Vợ chồng sống xa nhau không hàn gắn được tình cảm. Nay, anh Đ thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị T. Theo trình bày của ông Lê Văn H, bà Lê Thị S (bố mẹ đẻ chị T) thì chị T cũng đồng ý ly hôn với anh Đ. Do đó, xét thấy, hôn nhân của anh Đ, chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Võ Minh Đ được ly hôn với chị Lê Thị Thu T.
[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Võ Minh B Lâm sinh ngày 17/4/2020, hiện cháu đang ở với ông Lê Văn H và bà Lê Thị S. Ly hôn, anh Đ có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Lê Thị Thu T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì quyền và nghĩa vụ nuôi con thuộc về cha mẹ. Chị Lê Thị Thu T hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Võ Minh Bảo L. Anh Đ, cháu Bảo L đều đang sinh sống tại Việt Nam. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt ổn định cho cháu Võ Minh Bảo L, cần giao cháu cho anh Võ Minh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Lê Thị Thu T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Minh Đ không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Võ Minh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay chị Lê Thị Thu T chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Ông Lê Văn H, bà Lê Thị S chăm sóc nuôi dưỡng cháu Võ Minh Bảo L từ trước cho đến nay, ông bà không có yêu cầu gì về chi phí nuôi cháu nên miễn xét.
[6] Về án phí: Anh Võ Minh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 37, 147, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Võ Minh Đ được ly hôn với chị Lê Thị Thu T.
- Về con chung: Giao cháu Võ Minh Bảo L, sinh ngày 17/4/2020 cho anh Võ Minh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Lê Thị Thu T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Minh Đ chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Võ Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013634 ngày 13/12/2024. Anh Võ Minh Đ đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Anh Võ Minh Đ, ông Lê Văn H, bà Lê Thị S có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Chị Lê Thị Thu T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND tỉnh Nghệ An;
- - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- - UBND xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc;
- - Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM Nguyễn Thị Quế Anh Võ Duy B1 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu T1 |
Bản án số 144/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 144/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Võ Minh Đ -Lê Thị Thu T
