| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2025/DS-PT Ngày: 10/3/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Chu Tuấn Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Đinh Như Lâm Ông Đàm Văn Thuận |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 370/2024/TLPT-DS ngày 22/10/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2025/QĐ-PT ngày 10/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 90 ngày 21/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Quách Văn Â, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: Số D đường T, phường A, thị trấn K, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L do bà Hoàng Kim D là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
Bị đơn: Công ty cổ phần Đ (viết tắt là Công ty Đ).
Trụ sở: Tòa nhà Đ, ngõ E đường L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh C - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Hồng V, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Văn H1 – Nhân viên (có mặt bà V).
Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan:
- Bà Trần Thị H2, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D đường T, phường A, thị trấn K, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L do bà Hoàng Kim D là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- Công ty cổ phần Đ (viết tắt là Công ty Đ)
Trụ sở: Tòa nhà Đ, ngõ E đường L, phường M, quan Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP S (viết tắt là S1)
Trụ sở: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Do có kháng cáo của Công ty cổ phần Đ là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
* Tại các văn bản tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Quách Văn  do người đại diện theo ủy quyền là bà Hoàng Kim D trình bày như sau:
Công ty Đ là chủ đầu tư của Dự án Trung tâm hội nghị, khách sạn, du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự nghỉ dưỡng FLC Q tại địa điểm xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (gọi tắt là “Dự án”). Công ty Đ là đơn vị được Công ty Đ cho phép thực hiện hoạt động tư vấn người mua liên quan đến việc đầu tư vào Dự án.
Vào ngày 18/01/2022, ông Quách Văn  đã ký kết hợp đồng dịch vụ số IV-SH.07.01/2022/FLCQUANGBINH/HĐGD cùng phụ lục đính kèm với Công ty Đ (gọi tắt là “hợp đồng dịch vụ”). Theo đó, ông  có nghĩa vụ đóng các khoản tiền (bao gồm Tiền Giao Dịch và T3) theo đúng tiến độ cho Công ty Đ; ngược lại, Công ty Đ tư vấn và thực hiện các công việc khác để đảm bảo rằng Công ty Đ sẽ ký kết hợp đồng chuyển nhượng các bất động sản cho ông Â, khi đó các khoản tiền đã đóng sẽ trở thành tiền thanh toán bất động sản. Trên cơ sở hợp đồng dịch vụ và hướng dẫn của Công ty Đ, ông  đã ký bản đăng ký mua bất động sản mà ông  lựa chọn; Công ty Đ và Công ty Đ sau đó cũng xác nhận về việc đã tiếp nhận thông tin đăng ký của ông Â. Cụ thể về hợp đồng như sau:
| Số hợp đồng dịch vụ | IV-SH.07.01/2022/FLCQUANGBINH/HĐGD |
|---|---|
| Bất động sản được lựa chọn | Ký hiệu: IV-SH.07.01 Diện tích xây dựng bất động sản tạm tính: 112.50 m2 Tổng Diện tích sàn xây dựng bất động sản tạm tính: 337.50 m2 Diện tích lô đất tạm tínht: 150 m2 |
| Giá mua đăng ký | 6.247.800.000 đồng, tiến độ thanh toán như sau: - Tiền Giao Dịch (thanh toán ngay ngày 18/01/2022): 1.874.340.000 đồng - Tiền Giao Dịch Bổ Sung: + Trước 15/03/2022: 1.874.340.000 đồng + Sau 30 ngày sau khi ký hợp đồng mua bán: 2.186.730.000 đồng |
| + Khi có thông báo về việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ: 312.390.000 đồng. | |
| Thời điểm ký kết hợp đồng mua bán với chủ đầu tư | Chậm nhất là ngày 31/10/2022, ông Ân có thể lựa chọn gia hạn nhưng tối đa không quá ngày 31/12/2022. |
Trên cơ sở hợp đồng, ông  đã thanh toán đầy đủ Tiền Giao Dịch trong hợp đồng dịch vụ cho Công ty Đ là: 1.874.340.000 đồng (Một tỷ tám trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
Đối với T Giao Dịch Bổ Sung, căn cứ vào hợp đồng dịch vụ thì ông  được hưởng chính sách ưu đãi của Công ty Đ khi được vay tiền thanh toán tại ngân hàng được chỉ định. Vì vậy vào ngày 15/03/2022, vợ chồng ông  và F Công ty Đ cùng ký kết thoả thuận ba bên với Phòng G - Ngân hàng TMCP S - chi nhánh H4 (gọi tắt là “S1”). Theo đó, ông  sẽ thế chấp quyền tài sản trong hợp đồng dịch vụ cho ngân hàng; ngược lại, ngân hàng sẽ giải ngân tiền để thanh toán Tiền Giao Dịch Bổ Sung vào tài khoản của Công ty Đ; Công ty Đ có nghĩa vụ hỗ trợ trả lãi suất trong thời gian 18 tháng. Với thoả thuận này, S1 đã thay ông  thực hiện nghĩa vụ thanh toán Tiền Giao Dịch Bổ Sung trong hợp đồng dịch vụ cho Công ty Đ với tổng số tiền là: 1.874.340.000 đồng (Một tỷ tám trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ông  đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính trong hợp đồng dịch vụ. Ngược lại, mặc dù đã quá thời hạn thực hiện công việc từ rất lâu (là ngày 31/10/2022, gia hạn muộn nhất là 31/12/2022) nhưng Công ty Đ vẫn chưa hoàn thành được nghĩa vụ đảm bảo Công ty Đ ký kết hợp đồng chuyển nhượng các bất động sản cho ông Â. Đến ngày 31/12/2022, hợp đồng dịch vụ đương nhiên chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 2.2.1 của hợp đồng. Ông  đã nhiều lần yêu cầu Công ty Đ tuân thủ hợp đồng dịch vụ nhưng đều không được phản hồi thoả đáng. Vào ngày 23/05/2023, trên cơ sở vi phạm của Công ty Đ, căn cứ vào Điều 2.2.2 của hợp đồng dịch vụ, ông  đã gửi đơn xin thanh lý hợp đồng dịch vụ tới Công ty Đ qua hộp thư điện tử và gửi đơn trực tiếp tại trụ sở chính của Công ty Đ. Theo đó, ông  có đề nghị Công ty Đ giải quyết quyền lợi cho ông  theo quy định của hợp đồng dịch vụ, đồng thời đề nghị sắp xếp lịch làm việc để giải quyết vấn đề giữa hai bên.
Vào ngày 05/06/2023 tại trụ sở của Công ty Đ, các bên đã tổ chức buổi làm việc ghi nhận các vướng mắc tại Dự án. Tuy nhiên, Công ty Đ tiếp tục không giải quyết vấn đề mà chỉ ghi nhận ý kiến của ông Â. Cho đến thời điểm hiện tại, Công ty Đ vẫn không có thiện chí để đàm phán giải quyết tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
Từ nội dung trình bày ở trên, ông  kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy tuyên bố chấm dứt Hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa ông  và Công ty Đ, buộc Công ty Đ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khi chấm dứt Hợp đồng dịch vụ như sau:
Căn cứ vào Điều 2.2.1, hoàn trả toàn bộ Tiền Giao Dịch và T Giao Dịch Bổ Sung mà ông A đã thanh toán là: 1.874.340.000 đồng + 1.874.340.000 đồng = 3.748.680.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó, 1.874.340.000 đồng hoàn trả trực tiếp cho ông Â, còn 1.874.340.000 đồng hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S theo hai thoả thuận ba bên ngày 15/03/2022.
Căn cứ vào Điều 2.2.1, bồi thường cho ông  số tiền căn cứ vào lãi suất tiền gửi, trả lãi sau, kỳ hạn 03 tháng của Ngân hàng TMCP P công bố tại thời điểm thanh toán với khách hàng là cá nhân tại thời điểm hiện nay là 4,1%/năm như sau: Số tiền bồi thường là: 3.748.680.000 đồng x (4,1%/12 tháng) x 07 tháng = 89.655.930 (T1 mươi chín triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn chín trăm ba mươi) đồng.
Căn cứ vào điều 357, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015, căn cứ vào lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng là Ngân hàng P; Ngân hàng TMCP N; Ngân hàng TMCP C1 (Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn) trung bình trên thị trường là 10%/năm để tính mức lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền của FLChomes như sau: Số tiền lãi do chậm thanh toán là: 3.748.680.000 đồng x (10%/12 tháng x 1.5) x 07 tháng = 328.009.500 (Ba trăm hai mươi tám triệu không trăm chín nghìn năm trăm) đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Công ty F phải thanh toán cho ông  đối với hợp đồng dịch vụ ký ngày 18/01/2022 là: 3.748.680.000 đồng + 89.655.930 đồng + 328.009.500 đồng = 4.166.345.430 (Bốn tỷ một trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi) đồng.
Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, ông Quách Văn  sửa đổi yêu cầu khởi kiện và rút một phần yêu cầu khởi kiện như sau:
Ông Quách Văn  khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng dịch vụ số IV-SH.07.01/2022/FLCQUANGBINH/HĐGD ký ngày ngày 18/11/2022 cùng phụ lục đính kèm với Công ty Đ. Ông  yêu cầu Công ty Đ phải thanh toán số tiền 1.874.340.000 đồng và trả số tiền bồi thường thiệt hại cho ông Â. Số tiền bồi thường thiệt hại được tính căn cứ vào lãi suất tiền gửi, trả lãi sau, kỳ hạn 03 tháng của Ngân hàng P công bố tại thời điểm thanh toán với khách hàng là cá nhân hiện nay là 2%/năm. Thời điểm tính lãi là từ ngày 10/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm như sau: 1.874.340.000 x (02%/12 tháng) x 18 tháng = 56.230.200 (năm mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn hai trăm) đồng.
Ông  rút yêu cầu tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền Công ty Đ chưa thanh toán kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ đến ngày xét xử sơ thẩm. Đối với yêu cầu phản tố, ông  không đồng ý và đề nghị Tòa án bác bỏ toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty Đ vì những lý do sau:
Thứ nhất, Thoả thuận ba bên không chấm dứt vào thời điểm 31/12/2022 như Công ty Đ trình bày mà chỉ chấm dứt vào ngày 16/10/2023 (khi Hợp đồng đã được hoàn thành), cụ thể: Thoả thuận ba bên không phải là một hợp đồng chuyển giao nên đối tượng hợp đồng không phải tài sản mà là một nhóm công việc mà các bên thoả thuận sẽ thực hiện. Việc ông Ân/bà H3 có nghĩa vụ thể chấp tài sản chỉ là một công việc, và đó là nghĩa vụ giữa ông Ân/bà H3 với S1 theo khoản 1.1 Thoả thuận ba bên. Đến nay, mặc dù tài sản thế chấp (quyền tài sản) không còn nhưng S1 không phát sinh tranh chấp đối với ông Ân/bà H3. Trong khi đó, ngoài công việc kể trên, Thoả thuận ba bên còn quy định rất nhiều công việc khác mà ba bên vẫn tiếp tục thực hiện sau ngày 31/12/2022. Tức là, đối tượng của Thoả thuận ba bên vẫn tồn tại. Công ty Đ viện dẫn khoản 5 Điều 422 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 là không phù hợp. Một trong những chứng cứ thể hiện các bên tiếp tục thực hiện Thoả thuận ba bên là Công ty Đ vẫn tiến hành trả lãi cho S1 định kỳ. Lý do bởi khi Hợp đồng dịch vụ giữa ông Ân/bà H3 và Công ty Đ chấm dứt, căn cứ vào Điểm 2.2.2 Hợp đồng dịch vụ, Công ty Đ có nghĩa vụ hoàn trả Tiền Giao Dịch/Tiền Giao Dịch Bổ sung cho ông Ân/bà H3. Trong Thoả thuận ba bên, căn cứ vào mục (ii) điểm a khoản 1.3, ba bên đã thoả thuận rằng đây là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền thu hồi lại khoản cho vay tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên, Thoả thuận quy định đây là “quyền” của Ngân hàng, vì vậy họ có quyền thực hiện bất kỳ lúc nào. Và họ chỉ thực hiện quyền này vào ngày 16/10/2023 (thời điểm S1 tất toán khoản vay theo Thông báo số 160/TB-HT). Căn cứ vào Khoản 6.6 Thoả thuận ba bên, Thoả thuận ba bên sẽ chỉ chấm dứt cho đến khi tất cả các bên hoàn thành nghĩa vụ trong Thoả thuận. Quy định này phù hợp với khoản 1 Điều 422 BLDS 2015. Như vậy, sự kiện pháp lý chấm dứt Thoả thuận ba bên là thời điểm bên có quyền/nghĩa vụ cuối cùng thực hiện xong quyền/nghĩa vụ đó. Và đó là ngày 16/10/2023 chứ không phải ngày 31/12/2022.
Thứ hai, do Thoả thuận ba bên chỉ chấm dứt vào ngày 16/10/2023 cho nên FLCHomes vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ từ thời điểm Thoả thuận có hiệu lực cho đến ngày 16/10/2023, trong đó có nghĩa vụ trả lãi vay, cụ thể: Căn cứ vào Điều 5 Thoả thuận ba bên, Công ty Đ có nghĩa vụ thay ông Ân/bà H3 trả lãi vay cho S1 trong khoảng thời gian 18 tháng kể từ ngày giải ngân (tức là từ tháng 03/2022 đến tháng 10/2023). Rõ ràng, S1 đã tính toán thời điểm tất toán khoản vay đúng bằng thời điểm thực hiện nghĩa vụ trả lãi của FLCHomes. Việc FLCHomes đóng tiền trả lãi vay từ 01/01/2023 đến 15/09/2023 tương đương 115.233.395 VNĐ là phù hợp với nghĩa vụ được quy định trong Thoả thuận ba bên. Vì là nghĩa vụ được quy định trong Thoả thuận, FLCHomes không có quyền yêu cầu ông Ân/bà H3 hoàn lại số tiền này.
* Tại các văn bản tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là Công ty cổ phần Đ trình bày như sau:
Công ty xác nhận có ký kết các văn kiện giao dịch đối với ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 như ông Â, bà H2 đã trình bày. Công ty xác nhận đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận tại hợp đồng của ông Â, bà H2. Công ty N1 chấm dứt hợp đồng đã ký kết với ông Â, bà H2. Quan điểm giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng dịch vụ của công ty như sau:
Về số tiền gốc phải trả là 1.874.340.000 đồng theo yêu cầu của ông Â, bà H2 công ty nhất trí sẽ thanh toán nhưng đề nghị được trả dần do hiện công ty có khó khăn về tài chính. Tại phiên tòa, Công ty Đ1 trả dần số tiền này trong thời hạn 18 tháng, đề nghị ông  không yêu cầu trả tiền bồi thường thiệt hại, tiền lãi chậm thanh toán. Nếu ông  đồng ý thì Công ty sẽ rút yêu cầu phản tố về việc đòi số tiền lãi 115.233.395 đồng.
Về số tiền bồi thường thiệt hại, Công ty N1 sẽ trả tiền bồi thường thiệt hại nhưng không đồng ý mức bồi thường của ông Â. Công ty chỉ đồng ý trả tiền bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận tại khoản 2.2.1 của hợp đồng. Tức là thời gian tính lãi từ ngày 31/10/2022 đến ngày 31/12/2022 trên số tiền 1.874.340.000 đồng theo lãi suất của Ngân hàng TMCP P Hội sở. Về lãi suất tính số tiền bồi thường thiệt hại Công ty không đưa ra mà đề nghị ông Â, bà H2 cung cấp. Nếu hiểu theo điều khoản thỏa thuận tại điều 2 của hợp đồng thì chỉ có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại khi thời điểm thực hiện hợp đồng dịch vụ được gia hạn còn không có điều khoản thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong trường hợp đương nhiên chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
Về lãi chậm thanh toán, tại phiên tòa ông  rút yêu cầu thì Công ty đồng ý.
Về yêu cầu phản tố Công ty đưa ra dựa trên những căn cứ và lập luận sau:
Ngày 15/3/2022 Công ty Đ, ông Â, bà H2 và Ngân hàng TMCP S – chi nhánh H4 – phòng G có ký kết Thỏa thuận 03 bên trong đó quy định: tài sản đảm bảo: Mọi quyền tài sản của ông Â, bà H2 phát sinh từ hợp đồng dịch vụ ký ngày 18/1/2022 Công ty Đ cam kết hỗ trợ khoản lãi vay trong hạn và phí phạt trả nợ trước hạn (nếu có) trong thời hạn 18 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên khoản vay của ông Â, bà H2 để thanh toán cho nghĩa vụ tài chính của ông Â, bà H2 phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ. Thực hiện thỏa thuận 03 bên này Công ty Đ đã chuyển cho S1 số tiền hỗ trợ từ ngày 16/3/2022 đến ngày 15/9/2023 là 239.633.082 đồng. Theo đơn khởi kiện của ông Â, căn cứ quy định tại khoản 2.2.1 của hợp đồng dịch vụ thì hiệu lực của hợp đồng chấm dứt vào ngày 31.12.2022. Vì vậy, kể từ thời điểm hợp đồng chấm dứt hiệu lực, toàn bộ quyền tài sản của ông Â, bà H2 phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ cũng đương nhiên chấm dứt. Từ đó tài sản đảm bảo không còn kể từ ngày 31/12/2022. Căn cứ khoản 5 điều 422 Bộ luật dân sự kể từ ngày 31/12/2022 Thỏa thuận 03 bên không thể thực hiện được do đối tượng của thỏa thuận không còn. Từ đó chấm dứt nghĩa vụ thanh toán khoản hỗ trợ của Đ. Ngoài ra nếu theo quan điểm của ông Â, bà H2 hợp đồng dịch vụ đã chấm dứt từ 31/12/2022 thì khi đó Đ có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ khoản tiền mà ông Â, bà H2 đã nộp (bao gồm vốn tự có và khoản vay từ S1) và sẽ không phát sinh nghĩa vụ thanh toán khoản hỗ trợ đối với khoản tiền phải trả này. Vì vậy, Công ty đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt Thỏa thuận ba bên kể từ ngày 31/12/2022 và yêu cầu ông Â, bà H2 hoàn trả số tiền hỗ trợ đã hưởng kể từ 01/01/2023 là 115.233.395 đồng.
*Tại bản trình bày gửi tới Tòa án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Hải đồng T2 người đại diện theo ủy quyền là bà Hoàng Kim D trình bày:
Bà là vợ của ông Quách Văn Â, là người cùng ông  ký vào các văn bản tài liệu xuất trình tại Tòa án. Bà thống nhất hoàn toàn với lời trình bày của ông  và đề nghị Tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho vợ chồng bà. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần S tại văn bản số 10/CV-PGDHT ngày 25/03/2024, văn bản số 15/CV-PGDHT ngày 22/7/2024 cung cấp:
Theo nội dung Thỏa thuận ba bên ký ngày 15/3/2022 giữa Ngân hàng, ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 và Công ty cổ phần Đ thì Ngân hàng đã tất toán Hợp đồng tín dụng số 20226564792 ký ngày 15/3/2022 với ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 vào ngày 20/10/2023. S1 đã chủ động chấm dứt tạm khóa và tự động trích toàn bộ số tiền tạm khóa cùng tiền lãi phát sinh (nếu có) để thu hồi nợ vay trong trường hợp bên B vi phạm hợp đồng tín dụng. S1 thu hồi khoản tiền lãi đén thời điểm tất toán là ngày 20/10/2023 với lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 15/03/2022. Quan điểm của S1 đối với khoản tiền lãi mà Đ là S1 thu lãi theo Hợp đồng tín dụng và Thỏa thuận ba bên. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận ba bên thì S1 không nhận được thông báo về việc không ký hợp đồng mua bán bất động sản.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã quyết định:
Áp dụng điều 422, 429, 513, 514, 515, 516, 517; 520 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; điều 147; 184; 203; 208; 210; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 2 điều 244; điều 271; 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1, 2, 5 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí kèm theo Nghị quyết.
*Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn  đối với Công ty cổ phần Đ.
Tuyên bố Hợp đồng dịch vụ số IV-SH.07.01/2022/FLCQUANG BINH/HĐGD ký kết ngày 18/11/2022 cùng phụ lục đính kèm giữa Công ty cổ phần Đ và ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 chấm dứt.
Buộc Công ty cổ phần Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 số tiền 1.874.340.000 (một tỷ tám trăm bảy mươi tư triệu ba trăm bốn mươi nghìn) đồng và số tiền bồi thường thiệt hại là 56.230.200 (năm mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn hai trăm) đồng. Tổng số tiền Công ty cổ phần Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 là 1.930.570.200 (một tỷ chín trăm ba mươi triệu năm trăm bảy mươi nghìn hai trăm) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán kể từ thời điểm Công ty cổ phần Đ vi phạm nghĩa vụ đến thời điểm xét xử của ông Quách Văn  đối với Công ty cổ phần Đ.
Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần Đ đối với ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2.
Về án phí: Ông Quách Văn  không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty cổ phần Đ phải nộp 72.916.000 (bảy mươi hai triệu chín trăm mười sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí yêu cầu phản tố là 2.880.000 (hai triệu tám trăm tám mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000675 ngày 21/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Công ty cổ phần Đ còn phải nộp 70.036.000 (bảy mươi triệu không trăm ba mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, bị đơn Công ty cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 34/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
- Bị đơn Công ty cổ phần Đ thay đổi kháng cáo về số nợ gốc 1.874.340.000 đồng và xác định bản án dân sự sơ thẩm xác định nghĩa vụ Công ty cổ phần Đ phải trả ông Â, bà H2 số tiền này là đúng. Công ty cổ phần Đ kháng cáo về số tiền bồi thường thiệt hại (đề nghị xác định lại thời điểm tính lãi) và kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về giải quyết nội dung vụ án: Sau khi phân tích đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
[1]. Về thủ tục: Bị đơn Công ty cổ phần Đ kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận về hình thức.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện về việc tranh chấp Hợp đồng dịch vụ. Hai bên không có mục đích lợi nhuận. Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xác định đây là vụ án Dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp Hợp đồng dịch vụ là đúng quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại thời điểm ông  nộp Đơn khởi kiện thụ lý vụ án, trụ sở đăng ký kinh doanh của Công ty Đ thuộc địa bàn quận C. Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Quách Văn  rút yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán kể từ thời điểm Công ty Đ vi phạm nghĩa vụ đến thời điểm xét xử. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện ông Quách Văn  đã rút là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Phiên tòa phúc thẩm được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H2, Công ty cổ phần Đ, Ngân hàng TMCP S vắng mặt. Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
*Về nội dung tranh chấp: Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy
Ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 và Công ty Đ đã ký kết hợp đồng dịch vụ số IV-SH.07.01/2022/FLCQUANGBINH/HĐGD cùng phụ lục đính kèm (gọi tắt là Hợp đồng dịch vụ) với Công ty Đ ngày 18/11/2022. Hợp đồng dịch vụ và phụ lục kèm theo được ký kết đảm bảo quy định về chủ thể, nội dung thỏa thuận không vi phạm pháp luật, phù hợp quy định tại Điều 117, 118, 119, 513, 514 Bộ luật dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực thực hiện.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đ đã vi phạm nghĩa vụ, cụ thể không thực hiện được công việc dịch vụ để đảm bảo đến thời hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng ông  được ký kết Hợp đồng mua bán lô đất có ký hiệu: IV-SH.07.01 tại Dự án Trung tâm hội nghị, khách sạn, du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự nghỉ dưỡng FLC Q, địa điểm xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình với Công ty Đ. Ông  khởi kiện đề nghị chấm dứt Hợp đồng dịch vụ và yêu cầu giải quyết hậu quả của việc chấm dứt Hợp đồng dịch vụ. Qua các tài liệu, chứng cứ cho thấy đến thời hạn cuối cùng theo Hợp đồng dịch vụ là ngày 31/12/2022 Công ty Đ không thực hiện được nội dung công việc như ông  đã nêu. Hai bên không có thỏa thuận nào về việc gia hạn thời hạn thực hiện hợp đồng. Việc vi phạm này đã dẫn tới không thể thực hiện được Hợp đồng nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Â, tuyên bố chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số IV-SH.07.01/2022/FLCQUANG BINH/HĐGD ký ngày 18/11/2022 cùng phụ lục đính kèm giữa ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2 với Công ty Đ là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 422 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét các yêu cầu giải quyết trả tiền giao dịch đã nộp, tiền bồi thường thiệt hại của ông  đối với Công ty Đ, Hội đồng xét xử thấy quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, ông  có sửa đổi yêu cầu khởi kiện và việc sửa đổi này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
Đối với số tiền 1.874.340.000 đồng là tiền giao dịch ông Â, bà H2 đã nộp cho Công ty Đ, Công ty Đ xác nhận đã nhận và chưa trả cho ông Â, bà H2 nên có căn cứ chấp nhận buộc Công ty Đ có nghĩa vụ thanh toán trả lại cho ông Â, bà H2 theo quy định tại khoản 3 Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty Đ cũng thừa nhận bản án sơ thẩm xác định Công ty Đ có nghĩa vụ trả ông Â, bà H2 số tiền gốc 1.874.340.000 đồng là đúng.
Đối với số tiền bồi thường thiệt hại ông  yêu cầu: căn cứ khoản 3 và khoản 4 Điều 428, khoản 2 điều 516 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông  đối với Công ty Đ là có căn cứ vì Công ty Đ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ cung ứng dịch vụ, không đảm bảo được cho ông Â, bà H2 ký được Hợp đồng mua bán lô đất theo thỏa thuận với Công ty Đ khi đến thời hạn. Về thời gian tính lãi để xác định số tiền bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử thấy đến thời điểm xét xử, thiệt hại của ông  chưa được khắc phục, ông  đã không ký kết được hợp đồng mua bán lô đất, tiền dịch vụ nộp cũng không được trả lại. Ông  đã chịu thiệt hại về chi phí cơ hội đầu tư trên thực tế. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận tính lãi của số tiền giao dịch ông  đã nộp cho Công ty Đ kể từ ngày 10/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 25/7/2024. Về mức lãi suất đề nghị áp dụng là 2%/năm, kiểm tra trên hệ thống dữ liệu công bố lãi suất của Ngân hàng TMCP P là phù hợp. Về số tiền bồi thường thiệt hại cụ thể mà ông  yêu cầu Công ty Đ trả là 56.230.200 (năm mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn hai trăm) đồng. Nếu tính theo công thức 1.874.340.000 đồng x 2%/năm x (số ngày từ ngày 10/01/2023 đến ngày 25/7/2024) thì số tiền bồi thường sẽ là 57.719.402 (năm mươi bảy triệu bảy trăm mười chín nghìn bốn trăm linh hai) đồng. Ông  yêu cầu số tiền bồi thường thiệt hại thấp hơn số tiền tính theo công thức nêu trên. Đây là ý chí tự nguyện của ông  nên bản án sơ thẩm ghi nhận và xác định số tiền bồi thường thiệt hại tính ngày xét xử mà ông  yêu cầu 56.230.200 (năm mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn hai trăm) đồng là phù hợp.
Xét yêu cầu phản tố của Công ty Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Thỏa thuận ba bên không số ký ngày 15/3/2022 giữa S1 – chi nhánh H4 – Phòng G, ông Quách Văn Â, bà Trần Thị H2, Công ty Đ được các bên xác nhận, không phản đối về tính xác thực của tài liệu cũng như nội dung thỏa thuận nên phát sinh hiệu lực thi hành. Tại điều 5 của Thỏa thuận ba bên có ghi nhận về nội dung Công ty Đ hỗ trợ khoản lãi vay trong thời gian 18 tháng kể từ ngày S1 giải ngân khoản vay đầu tiên cho ông Â, bà H2. Công ty Đ đã xuất trình và S1 đã xác nhận thu đủ 18 tháng tiền hỗ trợ lãi suất của Công ty Đ đối với khoản vay của ông Â, bà H2 tại S1. Hội đồng xét xử xét thấy trong bản Thỏa thuận ba bên hoặc Hợp đồng tín dụng giữa ông Â, bà H2 và S1 không có điều khoản ràng buộc nào về việc ông Â, bà H2 có nghĩa vụ trả lại số tiền hỗ trợ lãi suất vay cho Công ty Đ. Công ty Đ có lỗi, vi phạm nghĩa vụ thực hiện công việc theo Hợp đồng dịch vụ đã ký kết với ông Â, bà H2. Việc Công ty Đ cho rằng đang phải trả số tiền hỗ trợ lãi suất vượt quá, sau cả thời điểm ông Â, bà H2 cho rằng đã chấm dứt Hợp đồng dịch vụ là do lỗi của Công ty Đ. Công ty đã không thông báo cho S1 về việc không thực hiện được công việc cung cấp dịch vụ và thời điểm hợp đồng dịch vụ đã chấm dứt để có thể được xem xét ngừng việc nộp tiền hỗ trợ lãi suất. Bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty Đ là đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ căn cứ để không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy như đã phân tích trên.
[3]. Về án phí: Bản án dân sự sơ thẩm xác định đúng nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của bị đơn.
Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 296, Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 422, 428, 468, 513, 514, 515, 516, 517, 520 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Khoản 1, 2, 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thi miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0046374 ngày 14/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Các Thẩm phán | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |
Bản án số 144/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 144/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ. Yêu cầu giải quyết trả tiền giao dịch đã nộp, tiền bồi thường thiệt hại
