Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 144/2024/HS-ST

Ngày: 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thành Viên.
  2. Bà Châu Thị Lệ .

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Đạt Thắng L, sinh năm: 1984, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số A đường N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trường S (đã chết) và bà Đỗ Thị T; chưa có vợ, con; nhân thân: Ngày 27/11/2012, Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về Tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 272/2012/HSST, ngày 02/01/2014 chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí; Ngày 07/12/2014, Ủy ban nhân dân huyện H đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 29/6/2023; (Có mặt).

Bị hại: Bà Trịnh Thái Quỳnh N, sinh năm 2001; HKTT: T, L, C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở: 1 N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, Trần Đ Thắng Lợi một mình điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, Trung Quốc (không nhớ biển số) chở theo 01 balo màu đen bên trong đựng đồ đạc cá nhân của L lưu thông trên đường P theo hướng từ đường N về đường N để đi đến chỗ làm. Khi đi ngang trước nhà số A đường P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy bà Trịnh Thái Quỳnh N đang cầm điện thoại Iphone Xs Max, màu G đưa ra phía trước mặt để nói chuyện. Bà Trịnh Thái Quỳnh N đứng cùng phía với hướng di chuyển của L. Lúc này, L nảy sinh ý định cướp giật điện thoại để bán lấy tiền tiêu xài. L điều khiển xe lên lề đường dừng xe sát người bà N rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại trên tay bà N và tăng ga tẩu thoát. Ngay lúc đó, ông Trương Tiểu Đ1 đang bán cơm gần đó thấy sự việc nên chạy ra dùng chân đạp vào xe của L nhưng L không té ngã mà chỉ rớt lại balo đựng đồ cá nhân của L. Một lúc sau, L điều khiển xe máy quay lại quán cơm xin lại balo nhưng bị ông Trần Tiểu Đ2 nhận ra và truy đuổi nên L điều khiển xe tẩu thoát về nơi làm việc tại khu vực T, Thành phố T còn bà N đem balo có đựng đồ và tài liệu thông tin cá nhân của L lên Công an P1, quận G để trình báo sự việc. Sau khi tẩu thoát, L nhờ một người sống lang thang tại Công viên chân cầu S tên P (không rõ nhân thân, lai lịch và hiện nay không biết ở đâu) bán giúp chiếc xe máy của L được 4.200.000 đồng. Sau khi bán xe, Trần Đạt T có đến một số tiệm điện thoại để bán điện thoại giật được của bà N nhưng không ai mua nên L bỏ điện thoại trong túi quần. Đến trưa ngày 29/6/2023, L biết không thể trốn thoát và được gia đình vận động nên đến Công an P1, quận G để đầu thú.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số IMEI: 357267097037984, số IMEI 2: 357267097195022, là tài sản của bà N mà L cướp giật được và tự nguyện đem đến giao nộp. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận G kết luận: 01 điện thoại Iphone Xs Max có giá trị tại thời điểm định giá ngày 28/6/2023 là 3.666.667 đồng. Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại là bà N.
  • 01 (một) balo vải màu đen của L có: 01 (một) ví da màu nâu, không nhãn hiệu có dựng 01 (một) Căn cước công dân số [...]; 01 (một) thẻ điều trị methanol; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng O và 02 (hai) thẻ ATM ngân hàng U, tất cả đều mang tên Trần Đ Thắng Lợi; 01 (một) quạt điện bằng nhựa hiệu Senko; 01 (một) võng bằng vải dù có hoa văn rằn ri; 01 (một) cục xạc dự phòng màu đen và 01 (một) ống kim tiêm nhựa. Đây là những tài sản của Trần Đạt Thắng L, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên cho Trần Đạt Thắng L.
  • 01 (một) USB ghi nhận nội dung vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trịnh Thái Quỳnh N đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max nên không có yêu cầu gì nữa.

Tại bản cáo trạng số 147/CT-VKS-QGV, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Trần Đạt Thắng L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Trần Đạt Thắng L từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.
  • - Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB ghi nhận nội dung vụ án.

Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện, Bị hại đã trình bày lời khai và không có yêu cầu, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, Trần Đ Thắng Lợi một mình điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, Trung Quốc, đi ngang trước nhà số A đường P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi áp sát và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của bị hại bà Trịnh Thái Quỳnh N là 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max có giá trị là 3.666.667 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo sử dụng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ thực hiện hành vi phạm tội nên đây là tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 144/CT-VKS-QGV, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo đầu thú, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bà Trịnh Thái Quỳnh N vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện hại bà Trịnh Thái Quỳnh N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, không có yêu cầu gì nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại là bà Trịnh Thái Quỳnh N, Hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật nên nên không xem xét lại.
  • - Đối với: 01 (một) balo vải màu đen; 01 (một) ví da màu nâu, không nhãn hiệu; 01 Căn cước công dân số [...]; 01 (một) thẻ điều trị methanol; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng O và 02 (hai) thẻ ATM ngân hàng U; 01 (một) quạt điện bằng nhựa hiệu Senko; 01 (một) võng bằng vải dù có hoa văn rằn ri; 01 (một) cục xạc dự phòng màu đen và 01 (một) ống kim tiêm nhựa, đây là những tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét lại.
  • - Đối với 01 (một) USB ghi nhận nội dung vụ án, là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[8] Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[9] Lời phát biểu luận tội:

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Đạt Thắng L phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Đạt Thắng L 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/6/2023.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB ghi nhận nội dung vụ án.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Công an Q. Gò Vấp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Châu Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 144/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đạt Thăng L về tội "Cướp giật tài sản" theo điêm d khoản 2 Điêu 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger