Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ MỸ

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:

144/2024/HNGD-ST

Ngày: 21-5-2024

V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lộc;

2. Bà Trần Thị Bích Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 780/2024/QĐXX-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Toà số 803/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1989 (Có mặt).

Trú tại: Thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Anh Huỳnh Đức T, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại Toà hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Trước khi kết hôn chị và và anh Huỳnh Đức T qua thời gian tìm hiểu 02 năm, thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 05/9/2014, tại UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T đi làm thường xuyên về muộn, sống không có trách nhiệm với vợ con, mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình, một mình chị gánh vác, mỗi lần chị có ý kiến thì anh T tìm cách gây gỗ đánh chị nhiều lần, nên từ đầu năm 2023 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Trong khoảng thời gian sống ly thân anh T cũng không quan tâm mẹ con chị. Vì vậy nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Toà giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

-Về quan hệ nuôi con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Huỳnh Anh T1, sinh ngày 06/10/2014 và Huỳnh Anh T2, sinh ngày 03/05/2016, hiện các con đang ở với chị. Nay ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà giải quyết.

Đối với bị đơn anh Huỳnh Đức T mặc dù đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh T không có ý kiến trình bày gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên Tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ phát biểu: Về thủ tục tố tụng Tòa án đã tiến hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  • -Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Huỳnh Đức T.
  • -Về quan hệ nuôi con chung: Giao hai con chung của chị M và anh T là Huỳnh Anh T1, sinh ngày 06/10/2014 và Huỳnh Anh T2, sinh ngày 03/05/2016 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị không xét.
  • -Về quan hệ tài sản chung nợ chung: Chị M không yêu cầu, nên đề nghị không xét.
  • - Về án phí: Chị M phải chịu 300.000₫ sung ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này có bị đơn là anh Huỳnh Đức T đang cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã triệu tập bị đơn anh Huỳnh Đức T hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng anh T vắng mặt không có lý do, cũng không trở ngại khách quan, nên căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị M và anh Huỳnh Đức T nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 05/9/2014, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nên chị M yêu cầu ly hôn với anh T, với lý do anh T không quan tâm đến vợ con, ăn chơi bên ngoài, mỗi lần chị khuyên nhủ thì tìm cách gây chuyện đánh chị, nên từ đầu năm 2023 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy là vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng trong thời kỳ hôn nhân giữa chị M và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T sống không có trách nhiệm với gia đình, ăn chơi bên ngoài không lo làm ăn, mà còn nhiều lần đánh chị M.

Trong quá trình Toà hoà giải xét xử vụ án này anh T cũng không đến Toà, không có nguyện vọng được đoàn tụ, điều này chứng tỏ anh T cũng không mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc, vì vậy có cơ sở xác định, hôn nhân giữa chị M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu duy trì cuộc sống hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho chị M được ly hôn với anh T.

  • - Về con chung: Giữa chị M và anh T có 02 con chung là Huỳnh Anh T1, sinh ngày 06/10/2014 và Huỳnh Anh T2, sinh ngày 03/05/2016, hiện các con đang ở với chị M. Nay ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con, còn nguyện vọng cháu các con muốn được ở với mẹ, vì vậy Hội đồng xét xử giao cháu T1 và T2 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chị M không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng không xét.
  • -Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu án phí ly hôn, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b, Khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

-Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

-Căn cứ Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với Huỳnh Đức T.
  2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung chị M và anh T là Huỳnh Anh T1, sinh ngày 06/10/2014 và Huỳnh Anh T2, sinh ngày 03/05/2016 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng (hiện các con đang ở với chị M) và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn để sung ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí, mà chị M đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003932, ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M có mặt tại Toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/5/2024) và anh Huỳnh Đức T vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phù Mỹ;
  • -CC THADS huyện Phù Mỹ;
  • -UBND xã Mỹ Đức;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HNGD-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 144/2024/HNGD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M ly hôn Huỳnh Đức T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger