Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 144/2024/HC-ST

Ngày: 21-8-2024

V/v khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Khiêm

Ông Phạm Văn Trịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2024/TLST-HC ngày 24 tháng 5 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HC ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Thái Đức Thùy D, sinh năm 1965

Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Minh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: F N, phường M, thành phố P, tỉnh B.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
  2. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Anh T - Giám đốc
  3. Ủy ban nhân dân thành phố P
  4. Ông Lương Xuân M, sinh năm 1990
  5. Bà Nguyễn Thái Bảo T1, sinh năm 1988

Cùng địa chỉ liên lạc: Khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên toà, có mặt bà H. Vắng mặt ông Lương Xuân M, bà Nguyễn Thái Bảo T1, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân P nhưng tất cả có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Thái Đức Thùy D và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Phạm Thị Minh H trình bày:

Ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 có quyền sử dụng đất, Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BS 869601, số vào số cấp Giấy chứng nhận CH 01274 do UBND thành phố P cấp ngày 03/7/2014, cập nhật biến động ngày 11/10/2008 và ngày 04/7/2019. Thông tin thửa đất: Thửa đất số 255, tờ bản đồ 19, diện tích 100m², địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn; Thời hạn sử dụng: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhận quyền sử dụng đất do chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngày 11/03/2024, vợ chồng ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho bà D, thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C, địa chỉ G T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận công chứng vào ngày 11/3/2024, số công chứng 01773, quyền số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD.

Sau đó, bà D có nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận để đăng ký biến động sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông Lương Xuân M, bà Nguyễn Thái Bảo T1 qua tên bà Thái Đức Thùy D thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng, chứng thực. Ngày 22/03/2024, bà D bị Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ đăng ký đăng ký chuyển quyền sử dụng đất kèm theo công văn số 410/TB - CNVPĐKĐĐPT ngày 22/03/2024, nội dung công văn nêu: “.... Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của Bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại quyết định số 1973/QĐ-UBND ngày 16/04/2014 cho bà Thới Thị Minh T2) nhưng không phù hợp quy hoạch (Đất trồng cây lâu năm) theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại quyết định 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có công văn số 4721/UBND- KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T4 tại công văn 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu "2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất.

Trên đây là nội dung thông báo của Chi nhánh Văn phòng Đ đối với tình trạng hồ sơ của Bà. Đề nghị bà liên hệ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của thành phố để được nhận lại hồ sơ”.

Theo Luật Đất đai năm 2013, trường hợp quyền sử dụng đất của ông Lương Xuân M, bà Nguyễn Thái Bảo T1 chưa có quyết định thông báo thu hồi đất, đất không bị tranh chấp, đất có giấy chứng nhận quyền sử đất nên ông M, bà T1 đủ các quyền của người sử dụng đất trong đó quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; và theo quy định bà đủ điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này. Nay Chi nhánh văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình trong việc đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho Tôi là làm hạn chế quyền của người sử dụng đất đã được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D. Nay bà D, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận:

- Hủy Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 22/3/2024 của Chi nhánh văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà Thái Đức Thùy D.

- Buộc Chi nhánh Văn phòng đất đai Phan Thiết tỉnh Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho bà Thái Đức Thùy D.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại Văn bản số 1999/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 01/7/2024 như sau:

Đối với vụ khiếu kiện trên, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có Văn bản số 5697/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 26/6/2024 cung cấp ý kiến và toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai không có hồ sơ, tài liệu nào khác ngoài hồ sơ, tài liệu mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ có ý kiến tại văn bản số 5697/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 26/6/2024 như sau:

Ngày 11/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Thái Đức Thùy D tại biên nhận số 2024-3970/TNHS.

Bà Thái Đức Thùy D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 19, diện tích 100m² đất ở nông thôn tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 869601 do UBND thành phố P cấp ngày 03/7/2014 cho bà Việt Thị Lệ T3, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 ngày 04/7/2019.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 255, tờ bản đồ số 19 có lịch sử biến động như sau:

- Ngày 06/6/2013, ông Huỳnh D1 được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số BL 326942 đối với thửa đất số 137, tờ bản đồ số 19, diện tích 811 m² gồm 150,0m² đất ở tại nông thôn và 661,0m² đất trồng cây lâu năm, cập nhật biến động ngày 06/11/2013 chuyển mục đích sử dụng 290,0m² thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 2994/QĐ-UBND ngày 22/8/2013, cập nhật biến động ngày 31/12/2013 thửa đất số 137 đã tách 150,0 m² (Đất ở) để chuyển quyền, cập nhật biến động ngày 13/3/2014 thửa đất số 137 đã tách 96,3m² (Đất ở) để chuyển quyền.

- Ngày 21/3/2014, Chi nhánh Văn phòng cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số BL 326942 chuyển nhượng cho bà Thới Thị Minh T2.

- Ngày 16/4/2014, bà Thới Thị Minh T2 được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 306,3m² theo Quyết định số 1973/QĐ-UBND.

- Ngày 03/7/2014, bà Thới Thị Minh T2 thực hiện tách thửa đối với thửa đất số 137, tờ bản đồ số 19 theo Giấy chứng nhận số BL 326942 và chuyển nhượng cho ông Lê Quốc H1 được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số BS 869281 đối với thửa đất số 256, tờ bản đồ số 19, diện tích 100m² đất ở tại nông thôn.

- Ngày 11/10/2018, Chi nhánh Văn phòng cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số BS 869601 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc Hoàng H2.

- Ngày 04/7/2019, Chi nhánh Văn phòng cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số BS 869601 chuyển nhượng cho ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1.

Qua rà soát hồ sơ thì một phần diện tích đất ở của thửa đất số 255, tờ bản đồ số 19 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép bà Thới Thị Minh T2 được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 1973/QĐ-UBND ngày 16/4/2014 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T4 tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T4."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 22/3/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Thái Đức Thùy D. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Thái Đức Thùy D được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 quá trình đối thoại đã trình bày:

Ông bà có quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BS 869601, số vào số cấp Giấy chứng nhận CH 01274 do UBND thành phố P cấp ngày 03 tháng 7 năm 2014, cập nhật biến động ngày 11/10/2008 và ngày 04/7/2019. Ngày 11/3/2024, ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho bà Thái Đức Thùy D, thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C, địa chỉ G T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận công chứng vào ngày 11/3/2024, số công chứng 01773, quyền số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD. Các bên đã nhận đủ tiền, đã giao giấy chứng nhận cho bà Thái Đức Thùy D đi thực hiện thủ tục sang tên. Đến nay, ông bà không còn liên quan gì đến thửa đất này.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Đức Thùy D:

+ Hủy Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 22/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Thái Đức Thùy D.

+ Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.

+ Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B chịu án phí theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 nhưng tất cả đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này là đúng quy định.

[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 22/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Thái Đức Thùy D; Xét thấy Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 22/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ có nội dung dừng giải quyết và trả hồ sơ nhận chuyển nhượng đất của bà H3, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự nên được xác định là quyết định hành chính bị kiện. Như vậy đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì khiếu kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 22/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 12/4/2024, bà H3 khởi kiện đối với thông báo trên là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Thái Đức Thùy D, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 869601 do UBND thành phố P cấp ngày 03/7/2014 cho bà Việt Thị Lệ T3, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 ngày 04/7/2019. Ngày 11/3/2024, ông Lương Xuân M và bà Nguyễn Thái Bảo T1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng thừa đất nêu trên cho bà D. Việc chuyển nhượng được các bên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, bà D đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động thửa đất nêu trên. Ngày 22/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền tiền sử dụng đất của bà D, trong đó có nội dung tạm ngưng việc giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên với lý do diện tích đất được phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 1973/QĐ-UBND ngày 16/4/2014 của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về cấp mới, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất thì ngày 20/7/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Văn bản số 4046/CNVPĐKĐĐPT báo cáo về sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở trên địa bàn thành phố P không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, kèm theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng đến nay Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn không có ý kiến về việc xử lý các sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã kiến nghị.

Theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau:

1. ...

2. Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

...

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

- Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai, quy định:

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, ... khi có giấy chứng nhận...; Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

- Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai, quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

- Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014 như sau:

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định;

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Căn cứ vào các quy định pháp luật viện dẫn nêu trên, thấy rằng:

Bà D thực hiện quyền nhận chuyển nhượng thửa đất số 255, tờ bản đồ số 19, diện tích 100m² đất ở nông thôn nêu trên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, điểm b khoản 1 Điều 169, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Hơn nữa, việc nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên không làm thay đổi hiện trạng, diện tích, mục đích sử dụng đất. Do đó, việc Chi nhánh Văn phòng Đ là cơ quan trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B không thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng thửa đất số 255, tờ bản đồ số 19, diện tích 100m² đất ở nông thôn của bà D là trái quy định pháp luật. Đồng thời, ban hành Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 22/3/2024 về việc thông báo hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền tiền sử dụng đất của bà D là không có căn cứ pháp luật và đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người nhận chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên nên cần tuyên hủy là phù hợp.

Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Thái Đức Thùy D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, Điều 157, 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;

Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, Điều 106, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Thái Đức Thùy D.

- Hủy Thông báo số 410/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 22/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Thái Đức Thùy D 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000277 ngày 20/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B. Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, THC;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 144/2024/HC-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 144/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger